Thứ Hai – Tuần XXIII TN – Năm C – SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Thứ hai tuần XXIII TN: Mt 1, 18 – 23                                                      

18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô : bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.”

Bản gia phả, theo Tin Mừng Mátthêu, kết thúc với tên ông Giuse. Vai trò của ông Giuse, theo Thánh Kinh, cực kỳ quan trọng: Ông Giuse bảo đảm tính hợp pháp sự kiện Ngôi Hai làm người. Chúng ta cứ tưởng tượng xem nếu không có ông Giuse thì Đức Maria sẽ gặp những rắc rối nào, thậm chí còn bị ném đá chết, nếu bị tố giác. Nếu không có ông Giuse, ai sẽ giúp đỡ Đức Maria khi về Bêlem khai sổ bộ, rồi sinh con và chạy trốn qua Ai Cập? Nếu không có ông Giuse, làm sao Chúa Giêsu và Đức Maria sinh sống tại mái ấm Nazareth?

Nhưng thánh Giuse không chỉ được trân trọng vì ngài cần cho Chúa Giêsu và Đức Maria, mà còn vì ngài công chính, có đầy đủ mọi đức tính, khả dĩ được tuyển chọn giữa muôn người. Nơi thánh Giuse nổi cộm đức vâng phục: “Ông đã làm những gì Chúa dạy qua lời thiên sứ Gabriel”. Chúng ta có thể so sánh ngài với cụ tổ Abraham. Quả thật, vì vâng lời Chúa truyền, Abraham đã rời bỏ cha mẹ và quê hương. Vâng lời Chúa dạy, Abraham đã tin vào lời Chúa hứa, mặc dù ông và vợ ông son sẻ. Vâng lời Chúa dạy, ông quyết sát tế cả đứa con nối dòng. Đúng là ông tin cả khi điều ông tin là một nghịch lý.

Ông Giuse cũng đã chấp nhận thánh ý Chúa sau một cuộc giẳng co khủng khiếp trong tâm hồn. Dưới sự thúc đẩy của Thánh Linh, hai vợ chồng Giuse và Maria, quyết hiến thân cho Thiên Chúa. Thế nhưng niềm tin của ông vào người bạn đời sém tiêu tan vì có sự can thiệp của Thiên Chúa mà ông không hay. Ông không nỡ tố cáo Maria, mà cũng chẳng muốn đồng lõa với dấu chỉ ngoại tình nơi người vợ chưa cưới! Cũng như Abraham, ông cam tâm chờ đợi thánh ý Thiên Chúa tỏ bày.

Sự chờ đợi ấy, được nâng đỡ bởi một đức tin, kể cả khi không còn gì để hy vọng (Rm 4, 18). Niềm tin của hai Tổ phụ Abraham và thánh Giuse cuối cùng đã được hồi đáp, vì “đối với Thiên Chúa không gì mà không thể thành sự” (Lc 1,37).

Thánh Giuse được gọi là công chính, vì Ngài đã vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Ngài cũng là người bác ái và kiên nhẫn. Quả thật Ngài đã âm thầm cầu nguyện trước “dấu chỉ ngoại tình” của vợ mình. Ngài hoàn toàn phó thác cho Chúa Quan phòng và chờ đợi!

Vì đức tính cao cả ấy, Ngài được Chúa Cha tin tưởng trao phó Con Một để săn sóc cho tới tuổi trưởng thành. Ngài vô cùng thầm lặng trong khiêm tốn. Trong Tin Mừng, chúng ta không tìm được một lời nói nào của người. Thế nhưng Giáo Hội trân trọng và tuyên xưng Ngài là Thánh Cả.

Ôi lạy Cha thánh Giuse, xin giúp chúng con xây dựng gia đình và cộng đoàn theo khuôn mẫu gia thất Nazareth! Xin dạy chúng con biết sống khiêm tốn và âm thầm để chỉ nói một từ, gói ghém mọi ý nghĩa cao đẹp là Giêsu Emmanuel!

Bài viết cùng chuyên mục

Back to top button