Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu Năm A _ Man-Na Cho Người Lữ Hành

Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Đnl 7,6-11

Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em.

Bài trích sách Đệ nhị luật.

6 Khi ấy, ông Mô-sê nói với dân Ít-ra-en rằng : “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. 7 Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. 8 Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pha-ra-ô, vua Ai-cập. 9 Anh em phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành : cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người. 10 Còn ai thù ghét Người, thì Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa, khiến nó phải chết ; với kẻ thù ghét Người, Người không trì hoãn, Người nhằm chính bản thân nó mà trả đũa. 11 Vậy anh em phải tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định mà hôm nay tôi truyền cho anh em đem ra thực hành.”

Đó là lời Chúa.

Đáp ca : Tv 102,1-2.3-4.6-7.8 và 10 (Đ. x. c.17)

Đ. Ân tình Chúa thiên thu vạn đại, Chúa dành cho ai kính sợ Người.

1 Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
toàn thân tôi, hãy chúc tụng Thánh Danh !
2 Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi,
chớ khá quên mọi ân huệ của Người. Đ.

3 Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi,
thương chữa lành các bệnh tật ngươi.
4 Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt,
bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà. Đ.

6 Chúa phân xử công minh,
bênh quyền lợi những ai bị áp bức,
7 mặc khải cho Mô-sê biết đường lối của Người,
cho con cái nhà Ít-ra-en
thấy những kỳ công Người thực hiện. Đ.

8 Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương,
10 Người không cứ tội ta mà xét xử,
không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Đ.

Bài đọc 2 : 1 Ga 4,7-16

Chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Gio-an tông đồ.

7 Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Phàm ai yêu thương,

thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa.

8 Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

9 Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này :

Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian

để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.

10 Tình yêu cốt ở điều này :

không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến

làm của lễ đền tội cho chúng ta.

11 Anh em thân mến,

nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.

12 Thiên Chúa, chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ.

Nếu chúng ta yêu thương nhau,

thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo.

13 Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người

và Người ở lại trong chúng ta :

đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta.

14 Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngưỡng và làm chứng rằng :

Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian.

15 Hễ ai tuyên xưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy

và người ấy ở lại trong Thiên Chúa.

16 Còn chúng ta,

chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó.

Thiên Chúa là tình yêu :

ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng : Mt 11,29ab

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng : Mt 11,25-30

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

Đó là lời Chúa.

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Đnl 7,6-11

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Đệ nhị luật, là quyển sách cuối cùng trong bộ Ngũ Thư (Sáng thế, Xuất hành, Lê-vi, Dân số, Đệ nhị luật). Đệ nhị luật thật sự là một quyển sách độc đáo, tạo nên một truyền thống bao trùm một phần lớn văn chương Do-thái giáo. Tuy nhiên, Đệ nhị luật được đặt ở vị trí cuối bộ Ngũ Thư, vì toàn bộ những sách này ghi lại nguồn gốc và giai đoạn đầu của lịch sử dân Ít-ra-en, trong đó gương mặt nổi bật của ông Mô-sê có một ảnh hưởng độc nhất vô nhị, được Đệ nhị luật làm rực sáng lên với những nét mạnh mẽ, bi hùng, và tiễn đưa vào cõi vĩnh hằng với một niềm cảm phục sâu xa. Có thể nói sách Đệ nhị luật là kết tinh của Do-thái giáo, trong kết cấu chặt chẽ giữa phần nội tâm (là lòng gắn bó với Thiên Chúa) và luật pháp của Người, với phần ngoại diện (là một xã hội trung kiên trong đức tin qua những trang lịch sử đầy biến động).

2. Vậy điều gì đã nâng Do-thái giáo lên một trình độ như thế ? Thưa là giáo lý toát ra từ các diễn từ đặt trên môi miệng ông Mô-sê, và có thể thâu tóm lại trong các đề cương sau đây : một Thiên Chúa duy nhất, một nơi thờ phượng duy nhất, một tình yêu thương chung thuỷ đã tuyển chọn một dân riêng, lập với dân một Giao ước, ban hành cho dân luật yêu thương, ban tặng cho dân một miền đất màu mỡ, một vị trung gian xuất chúng : ông Mô-sê, qua một bộ sách luật. Bài đọc 1 hôm nay là một phần trong bài diễn từ thứ hai của ông Mô-sê, trong đó ông nhắc lại cho dân Ít-ra-en nhớ rằng họ là một dân thánh hiến cho Thiên Chúa. Vì yêu thương mà Chúa đã chọn họ giữa muôn dân trên mặt đất để làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. Cũng vì yêu thương mà Chúa đã giải thoát tổ tiên họ khỏi ách nô lệ Ai-cập và ban cho một đất làm sở hữu. Ông cũng cho dân biết Đức Chúa là Thiên Chúa thật, là Đấng trung thành cho đến muôn ngàn thế hệ. Người luôn giữ Giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ của Người.

Đáp ca : Tv 102

Thánh vịnh 102 là một thánh vịnh ca tụng Chúa khoan dung. Phụng vụ Chúa nhật hôm nay chỉ đề nghị ta đọc 8 trong số 22 câu của thánh vịnh này. Một chuyên viên Kinh Thánh, ông André Chouraqui nói rằng thánh vịnh 102 là một kinh “Te Deum” của Kinh Thánh, một bài ca tạ ơn vì mọi lời chúc phúc dành cho tác giả (dân Ít-ra-en) được đầy tràn ơn lành từ Thiên Chúa. Không phải ngẫu nhiên mà thánh vịnh này đề cập đến sự kính sợ Chúa mà lại trích một câu bất hủ của sách Xuất hành : “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Xh 34,6). Đây là một câu rất nổi tiếng trong Kinh Thánh, vì đây là lời mặc khải của chính Thiên Chúa dành cho ông Mô-sê khi Người đi qua ông trong sa mạc Xi-nai. Câu này thường được đọc trong các thánh vịnh, vì vừa là tên của Thiên Chúa, vừa để nhắc lại Giao ước. Các câu thánh vịnh được chọn hôm nay nhấn mạnh đến những biểu hiện về tình yêu nồng nàn của Thiên Chúa, đó là sự tha thứ : “Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi.” Một Thiên Chúa chậm giận, dân Ít-ra-en từng trải nghiệm suốt dòng lịch sử của họ : từ khi vượt qua sa mạc Xi-nai, ông Mô-sê đã từng phải cảnh cáo họ : “Anh em phải nhớ, đừng quên rằng anh em đã chọc giận Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, trong sa mạc. Từ ngày anh em ra khỏi đất Ai-cập cho đến khi tới đây, anh em đã phản nghịch chống lại Đức Chúa” (Đnl 9,7). Suốt dòng lịch sử của Giao ước là một chuỗi dài sự tha thứ của Thiên Chúa cho dân Ít-ra-en mỗi khi họ phạm tội. “Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.” Tình yêu trìu mến chúng ta cần nhất để trỗi dậy chính là được quên đi tội lỗi của chúng ta mỗi khi chúng ta sa ngã, mà dụ ngôn người Cha nhân hậu trong chương 15 Tin Mừng Lu-ca là một ví dụ điển hình.

Bài đọc 2 : 1 Ga 4,7-16

1. Bài đọc 2 hôm nay toàn là nói về tình yêu, có thể nói là trong từng hàng, nhưng chúng ta đừng lầm tưởng rằng thánh Gio-an đang sống trong một cộng đoàn tuyệt vời, chỉ gặp toàn là màu hồng. Thưa không phải như vậy đâu. Cộng đoàn mà thánh Gio-an viết bức thư này đang gặp khủng hoảng trầm trọng. Đủ loại ngôn sứ giả xuất hiện làm lệch lạc niềm tin của các tín hữu trong những cuộc tranh luận bất tận về thần học. Vào thời điểm đó, người ta quên đi vấn đề chính yếu là Thiên Chúa, hay nói cách khác, đó là Tình Yêu. Ta có thể tóm tắt bản văn này như sau : Thiên Chúa là Tình Yêu. Tất cả tình yêu của con người đều phát xuất từ Thiên Chúa.

2. Thánh Gio-an nói, anh em tìm hiểu về Thiên Chúa, việc đó là đáng khuyến khích, nhưng anh em đừng có sa vào những cuộc tranh luận vô bổ. Ta biết Thiên Chúa là Tình Yêu, đơn giản thế thôi, và tình yêu nơi mỗi người chúng ta đều phát xuất từ Thiên Chúa.

Có một bài hát rất cổ trong Giáo Hội nói rằng : “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời.” Câu trên cũng có thể là của thánh Gio-an, vì ngài cũng nói tương tự : “Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa.” Chúng ta có một tiêu chuẩn hết sức đơn giản và rõ ràng để đánh giá những việc làm của chúng ta và những gì chúng ta thấy cần phải làm. Ở đây là cả một nền giáo dục về cái nhìn. Hình như đó là bài học quan trọng mà thánh Gio-an muốn gửi đến các tín hữu. Có lẽ đó cũng là nhiệm vụ của người tín hữu : vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, nên chúng ta cũng phải yêu thương nhau, tình yêu đó biểu lộ qua cái nhìn, qua cách ứng xử trong cuộc sống thường ngày.

3. Chính trong nghĩa này mà Đức Giê-su đã nói : “Nước Thiên Chúa ở giữa các ông.” Điều đó có giá trị trong mọi thời đại, đối với tất cả mọi người hiện diện trên trái đất này. Nếu chúng ta biết mở to đôi mắt để nhìn, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta chiêm ngắm biết bao kỳ công của Chúa.

Trong Cựu Ước, mọi người đều hiểu rõ rằng biết Chúa và yêu Chúa chỉ là một việc và một ngày nào đó nhân loại sẽ thật sự nhận biết Chúa, và trở nên thân thiết với nhau : ngôn sứ I-sai-a nói về viễn cảnh hoà bình này trong câu chuyện ngụ ngôn các con vật : “Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,6-9).

4. Đó chính là kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại từ đời đời, một kế hoạch hài hoà phổ quát. Cũng trong bản văn này, thánh Gio-an đã nói : “Quả thế, đây là lời loan báo anh em đã nghe từ lúc khởi đầu : chúng ta hãy yêu thương nhau” (1 Ga 3,11). Từ lúc khởi đầu nghĩa là từ nguyên thuỷ. Chúng ta cũng đọc trong thư thứ nhất của thánh Gio-an : “Đây là điều răn của Người : Chúng ta phải tin vào danh Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người, và phải yêu thương nhau theo điều răn Người đã ban cho chúng ta” (1 Ga 3,23). Rồi thánh Gio-an tiếp tục : “Đây là cách Thiên Chúa đã tỏ tình yêu của Người dành cho chúng ta : Thiên Chúa đã sai Con Một duy nhất của Người đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Người.” Ở đây chúng ta nghe vang lên lời thánh Gio-an trong Tin Mừng thứ tư : “Sự sống đời đời là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha sai đến, là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3). Sống (theo nghĩa sự sống đời đời) là nhận biết Thiên Chúa, và để chúng ta nhận biết Người thật sự là Đấng nào, chứ không phải là Đấng chúng ta tưởng tượng ra. Người đã sai Con của Người đến thế gian.

Thiên Chúa là Đấng ta không thể thấy được, vậy ta có thể biết Người bằng cách nào ? Thưa, nơi Đức Giê-su, vì Người là Thiên Chúa làm người, và rồi chúng ta thấy Thiên Chúa nơi dung mạo của một con người và trong những cử chỉ của con người : “Thiên Chúa đã sai Con duy nhất của Người đến thế gian để chúng ta được sống nhờ Người”, nghĩa là để chúng ta nhận biết Người. Cả cuộc đời của mình, Đức Giê-su đã mặc khải bằng lời nói cũng như việc làm tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại : những lời nói mặc khải và những lời nói tha thứ, những cử chỉ chữa lành và trấn an. Buổi chiều cuối cùng, thánh Gio-an kể rằng, Đức Giê-su để lại cho các Tông Đồ một cử chỉ cuối cùng còn quan trọng hơn lời nói của Người nữa : “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng … Đức Giê-su biết rằng : Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13,1-5). Đó là một bài học về phục vụ cho tất cả chúng ta : “Anh em gọi Thầy là ‘Thầy’, là ‘Chúa’, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,13). Hãy lắng nghe lời Chúa và thực hành như vậy.

Bài Tin Mừng : Mt 11,25-30

1. Lời Chúa trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe gợi lại chuyện các thiếu niên Do-thái trong sách Đa-ni-en, giải thích ý nghĩa giấc chiêm bao của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo mà tất cả các nhà thông thái Ba-by-lon đều không giải thích được, nhờ ơn mặc khải của Thiên Chúa. Nhà vua nhìn thấy trong giấc chiêm bao một pho tượng kỳ quái : Đầu pho tượng ấy bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và hai bắp đùi bằng đồng, hai bắp chân bằng sắt, hai bàn chân nửa sắt nửa sành. Ngài đang mải nhìn thì bỗng có một tảng đá tách ra, dù không có bàn tay nào đụng tới, nó đập vào pho tượng trúng hai chân nửa sắt nửa sành khiến hai bàn chân vỡ tan ra. Bấy giờ tất cả cùng vỡ tan : cả sắt, sành, đồng, bạc lẫn vàng, giống như rơm rác trên sân phơi lúa mùa hè bị gió cuốn đi không để lại dấu vết gì. Còn tảng đá làm vỡ pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn, choáng hết mặt đất. Và đây là ý nghĩa của giấc chiêm bao : Đức Chúa Trời đã ban cho vua vương quốc, quyền hành, thế lực và vinh quang, và cho ngài làm chúa tể muôn loài. Cái đầu bằng vàng chính là ngài. Sau triều đại của ngài, sẽ xuất hiện một vương quốc khác kém hơn ngài. Rồi một vương quốc thứ ba nữa, vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị cả mặt đất. Còn vương quốc thứ tư vững như sắt. Cũng như sắt nghiền nát và đập tan tất cả, thì vương quốc thứ tư này sẽ đập tan tất cả các vương quốc trước đó. Trong giấc chiêm bao, chúng ta thấy bốn loại kim khí được kể theo thứ tự giảm dần : vàng, bạc, đồng, sắt, chỉ bốn vương quốc : Ba-by-lon (đầu bằng vàng) ; Mê-đi-a (ngực và hai cánh tay bằng bạc – một vương quốc khác) ; vương quốc thứ ba là Ba-tư (bụng và bắp đùi bằng đồng) ; Hy-lạp (hai bắp chân bằng sắt). Còn hai bàn chân nửa sắt nửa sành (= nửa bằng đất sét) chỉ vương quốc Hy-lạp sẽ bị phân chia sau khi A-lê-xan-đê đại đế băng hà, từ năm 305 trở đi, vương quốc Hy-lạp chia làm hai : vương quốc do nhà Xê-lêu-cô cai trị, gọi là vương quốc mạnh, và vương quốc do nhà La-gô cai trị được gọi là vương quốc yếu. Vương quốc đập tan tất cả các vương quốc khác, đó là vương quốc Mê-si-a, vương quốc cánh chung.

Cũng thế, Chúa Giê-su ngợi khen Thiên Chúa là Cha đã tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn, tức là những kẻ tin theo và chỉ biết lệ thuộc vào người lớn. Ở đây, Chúa Giê-su cũng cho thấy Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho Người, nhất là cho Người biết Cha để rồi Người mặc khải cho người ta, nghĩa là để làm cho người ta được sống đời đời. Như thế, chính Chúa Giê-su là Con Người của sách Đa-ni-en, ở đây xuất hiện dưới danh xưng Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Những người này cũng là những kẻ vất vả, mang gánh nặng nề mà Chúa Giê-su kêu gọi đến với Người. Trước tiên, đây hiểu về những người Do-thái sống dưới ách của Lề Luật cũ và vô vàn vô số những tập tục nặng nề mà các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã đặt ra. Nhưng cũng hiểu rộng ra về kiếp sống con người trên trần gian này nói chung.

Mang lấy ách của tôi là một kiểu nói bóng các thầy Ráp-bi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai làm Thầy. Ách / gánh của Chúa Giê-su là đạo lý Tin Mừng. Có thể nói đạo lý này tổng hợp trong ba điểm : tin (trở thành môn đệ, thụ giáo với Chúa), khiêm nhường (thái độ đối với Chúa), hiền lành (thái độ đối với tha nhân) như Chúa Giê-su.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết noi gương hiền lành và khiêm nhường của Chúa.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã sống hiền lành và khiêm nhường như Chúa Giê-su chưa?

Nguồn: https://hdgmvietnam.com/

Bài viết cùng chuyên mục

Back to top button