THÁNH HINDÊGADI BINGEN – 17/09

Hindêgadi được giáo dục bởi các nữ tu Dòng Thánh Bênêdictô ở Rhineland, nước Đức. Năm 42 tuổi, bà được chọn làm đan viện mẫu kế vị Mẹ Jutta, bà giáo thánh thiện của mình. Đây là lúc cuộc sống công khai của Mẹ Hindêgadi bắt đầu. Người phụ nữ đặc biệt này không những có các kỹ năng tuyệt vời về toán học, dược học, y học, triết học và thần học, mà còn về âm nhạc, thi ca, trước thuật, thuyết giảng và sáng tác. Trên tất cả những điều đó, ngài là một người phụ nữ của Chúa, đã tận hiến hoàn toàn cho Chúa trong đời sống tu trì của một nữ tu Dòng Thánh Bênêđictô. Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa đến nỗi thường được ơn thị kiến, điều này giúp ngài nhìn hiện thực hằng ngày dưới ánh sáng tình yêu của Chúa. Điều này thôi thúc ngài kêu gọi tất cả các tín hữu, kể cả các giáo sĩ, trở về với Chúa và thay đổi cuộc sống. Mặc dù sức khoẻ yếu, ngài cũng đi rao giảng nhiều nơi ở Đức. Ngài trao đổi thư từ với các vị giáo hoàng thời đó. Đức Thánh Cha Eugeniô III đặc biệt ấn tượng với công việc của Mẹ Hinđêgađi và là một người ủng hộ nhiệt tình các tác phẩm của ngài. Nhờ khôn ngoan và kiến thức, rất nhiều người đã đến với Mẹ Hindêgađi để xin lời khuyên.

Nói chung, phong trào đấu tranh cho nữ quyền bênh vực cho quyền của nữ giới trên cơ sở bình đẳng giới tính, trong khi công nhận rằng nam và nữ không hoàn toàn giống nhau. Giáo Hội chỉ có thể ủng hộ những nỗ lực như vậy cho các quyền bình đẳng (x. Thánh 1.47). Mọi thứ trở nên khó khăn hơn khi phong trào nữ quyền được kết nối với các chủ đề khác như lý thuyết về giới (x. bên dưới), quan hệ đồng tính (x. Thánh 2.38) hoặc đòi hỏi “quyền” cho một số ơn gọi cụ thể (x. Thánh 1.48). Mẹ Hindêgadi đã đảm nhận rất nhiều nhiệm vụ được coi là của “nam giới” ở thời của ngài, và không ngần ngại đối đầu với các nhà lãnh đạo thế giới, kể cả Hoàng Đế Barbarossa về sự cai trị và các lựa chọn chính trị. Ngài đề cao quan điểm nam và nữ được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa và các giới tính bổ sung cho nhau. Cả nam và nữ đều có những điều khác nhau để đóng góp (x. Thánh 1.47). Vào thời của Mẹ Hinđêgađi, Thiên Chúa thường được miêu tả với hầu hết các đặc điểm của riêng nam giới. Thần học của ngài đã giúp có cái nhìn công bằng hơn về Thiên Chúa, Đấng mà trong bản thể bao gồm cả những phẩm tính nữ và nam.

Nhìn chung, các lý thuyết về giới cho rằng căn tính nam hay nữ không phải là kết quả của việc sinh ra là con gái hay con trai, mà là do bối cảnh xã hội và văn hoá nơi một đứa trẻ lớn lên. Một trong những hậu quả là người ta sẽ tự do khám phá giới tính riêng của mình. Trên quan điểm về sự bổ sung giữa hai giới, Mẹ Hindêgadi mạnh mẽ phản đối những lý thuyết về giới như thế. Chính tự nhiên cũng mâu thuẫn với quan điểm này: con người khi được sinh ra với cơ thể là nam hoặc nữ. Cơ thể là một phần làm nên căn tính của ta do Chúa dựng nên. Đúng là có một tỷ lệ nhỏ con người phải giằng co với giới tính bẩm sinh của mình, những người này đáng được thông cảm và giúp đỡ (x. Thánh 4,31). Nhưng sẽ thật sai trái nếu làm cho đại đa số trẻ nhỏ không mắc phải vấn đề này bị hiểu lầm..

Lẽ ra cần phân biệt: SEX (Pháp: sexe) nghĩa là phái tính hay giới tính (bao gồm: man nam và woman nữ) chỉ một sự khác biệt căn cứ trên thể lý hay sinh học, còn GENDER(Pháp: genre) nghĩa là giống (bao gồm: male, masculine giống đực hay female, feminine giống cái) căn cứ trên văn hoá hay xã hội, chỉ là một quy ước của ngôn ngữ (như trong tiếng Pháp, danh từ la maison=cái nhà là giống cái, còn danh từ le tableau-cái bảng là giống đực). Gender cũng thường được dịch (hàm hồ) là giới, giới tính: transgender: người chuyển giới; gender theory: lý thuyết về giới. Nhưng trong phần dịch Việt ngữ này, những từ liên quan đến các từ Anh ngữ sex và gender đều được coi như có nghĩa tương đương và dịch là phái, giới theo cách sử dụng phổ biến trong Việt ngữ hiện nay. Như thế, không để ý đến phân biệt này!

“Con người tồn tại ở cả hai dạng nam và nữ. Thánh Nữ Hindêgadi đã nhận ra mối quan hệ hỗ tương và bình đẳng về bản thể giữa nam và nữ bắt nguồn từ cấu trúc hữu thể này của thân phận con người… Nơi Thánh Nữ Hinđêgađi, những giá trị cao quý nhất của nữ giới đã được thể hiện: vì thế, sự hiện diện của phụ nữ trong Giáo Hội và trong xã hội cũng đã được minh chứng bởi sự hiện diện của ngài, cả từ góc độ nghiên cứu khoa học lẫn hoạt động mục vụ. Khả năng thuyết phục của Thánh Nữ Hinđêgađi với những người đang xa rời đức tin và Giáo Hội khiến ngài trở thành một nhân chứng đáng tin của việc tân Phúc Âm hoá.”

[ĐGH Bênêđictô XVI, Thánh Nữ Hindêgadi Bingen, Tiến sĩ Hội Thánh, 07/10/2012].

Phân biệt đối xử với người chuyển giới là điều rất sai trái, và những người này cần được giúp đỡ và đồng hành, kể cả trong Giáo Hội. Đồng thời, kết quả của các cuộc thảo luận về giới tính có thể dễ dàng dẫn đến sự phân biệt đối xử theo một hướng khác. Tự do tôn giáo là quyền tự do cơ bản (x. Thánh 1.15) và phải được áp dụng cho mọi người. Quan điểm Công Giáo cho rằng giới tính được ban cho từ khi sinh ra và chính Thiên Chúa đã dựng nên cơ thể chúng ta với toàn bộ bản tính con người chúng ta. Quan niệm này không có ý định phân biệt đối xử chống lại bất kỳ ai. Đúng hơn, nó đề cao sự thật mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với chúng ta. Người Công giáo phải được tự do ủng hộ sự thật này và không bị phân biệt đối xử. Bạn có thể đóng góp như thế nào?

Nguồn: https://www.onlinewithsaints.com/

Bài viết cùng chuyên mục

Back to top button