Có Một Dòng Sông Chảy Mãi Trong Tôi

Chúng tôi đến Rạch Vọp vào một buổi chiều lặng gió. Dòng sông vẫn âm thầm chảy theo từng con nước, khi đầy khi vơi. Sông Rạch Vọp nhận nước từ sông Hậu, mang theo phù sa và len lỏi vào nhịp sống của người dân miền sông nước. Dòng sông ấy dường như cũng mang trong mình nét chân chất và quảng đại của con người nơi đây. Và từ buổi chiều hôm ấy, dường như một dòng sông khác cũng bắt đầu gợn sóng và chảy trong tâm hồn tôi.
Chuyến đi của đoàn bắt đầu bằng cuộc hành hương về bên cha Fx. Trương Bửu Diệp – vị tân Chân phước mới được tôn phong cách đây hơn một tháng. Nếu ở Tắc Sậy, chúng tôi bắt gặp hình ảnh một vị mục tử đã từng sống giữa đoàn chiên và chết vì đoàn chiên, một chứng nhân trung thành đang được Giáo Hội tôn kính; thì tại Rạch Vọp, chúng tôi lại được gặp một vị mục tử khác đang âm thầm xây những nhịp cầu vô hình, đưa người lương dân đến gần Chúa và gần nhau hơn.
Cha đã gắn bó với giáo điểm Rạch Vọp này gần mười năm. Dáng người dong dỏng, hao hao gầy nhưng bước đi thoăn thoắt, đến nỗi không ai có thể nhận ra dấu vết của tuổi bảy mươi ba qua phong thái của cha. Mọi người đều thân thương gọi cha là ông Cố lớn để phân biệt với cha phó là ông Cố nhỏ.
Xe chúng tôi dừng ở một bãi đất trống gần chân cầu Rạch Vọp. Rồi ông Cố lớn đón chúng tôi về giáo điểm bằng những chiếc xe có treo bảng chữ “Xe tang Giáo xứ”. Thoạt trông thấy chiếc xe, chúng tôi nhìn nhau rồi bật cười, vì thông thường xe tang dùng để chở người đã khuất và thân nhân của họ. Nhưng về đến giáo điểm, chúng tôi mới vỡ lẽ ra. Những chiếc xe chúng tôi gọi là “xe tang” đó thực ra là những chiếc xe chuyên dụng để đưa đón người đạo gốc, người tân tòng và lương dân đến nhà thờ vào mỗi ngày Chúa Nhật. Tôi chợt cảm phục sáng kiến đầy tình yêu và tâm tình mục tử của cha già.
Bên cạnh ba chiếc xe chuyên dụng để chở người trên đường bộ, ông Cố lớn cũng sắp xếp ba chiếc thuyền xuồng máy (hay còn gọi là tắc ráng) để đón mọi người dọc theo hai bờ sông Rạch Vọp đến nhà thờ. Nếu không có phương tiện chuyên chở, có lẽ người dân lại thêm một cản trở lớn về địa lý trên hành trình tìm đến Chúa nơi giáo điểm miền sông nước này, bởi đa phần những người đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ và sinh hoạt là người già và trẻ em. Nhà họ ở cách nhà thờ vài cây số, thậm chí vài chục cây số, nhưng dường như lòng đạo của họ chưa bao giờ tắt.
Nhìn những chiếc xuồng tròng trành trên sông, những chiếc xe chuyên dụng đầy ắp người, tôi bỗng cảm phục lòng tin của họ biết bao. Có người thắc mắc, tại sao tôi không gọi họ là những người chưa nhận biết Chúa mà lại gọi là “lương dân”? Tôi biết, từ ngữ ấy chỉ đúng với thời bách hại Đạo tại Việt Nam ngày xưa, khi Đạo Chúa bị xem như thứ tà Đạo, và những ai theo Chúa thì bị gọi là kẻ “bất lương”, phải chịu bách hại. Do dó, họ, những người chưa tin nhận Chúa thì mới được gọi là “lương dân”, là người lương thiện và được sống. Tôi mỉm cười suy nghĩ… quả thật, từ ngữ ấy không còn đúng và phù hợp nữa, nhưng có lẽ, một cách nào đó, những con người nơi đây đúng là “lương dân” chính hiệu, là những người lương thiện đã và đang mải mê tìm kiếm, khao khát Đấng là cội nguồn Sự Thiện. Làm sao chúng ta có thể nói họ là chưa nhận biết Chúa trong khi có những người đã miệt mài tham dự Thánh Lễ và học Giáo lý từ nhiều năm nay? Tôi được biết có những anh chị em lương dân đến tham dự Thánh Lễ, học giáo lý. Rồi những người đã đến trước lại mời gọi những người khác đến. Lương dân giới thiệu Chúa cho lương dân.
Tôi khắc khoải hồi lâu và thấy lòng mình thắt lại. Từ trước đến nay, tôi vẫn quen với hình ảnh người Công giáo đi loan báo Tin Mừng cho những người chưa nhận biết Ngài. Và tôi giật mình tự hỏi, phải chăng tôi đã quá dễ dàng để bằng lòng với cách truyền giáo nửa vời của mình trong suốt một thời gian dài theo bước Chúa trong Ơn gọi Mến Thánh Giá?
Đúng bảy giờ tối, khi tiếng chuông nhà thờ vang lên, ông Cố lớn mời gọi chúng tôi đọc kinh online với toàn thể cộng đoàn giáo xứ qua Google Meet. Trong số những người tham gia đọc kinh, có nhiều người là tân tòng hoặc lương dân đang theo học các lớp “đến mà xem” và “muốn làm quen” của giáo điểm. Đây là những lớp giáo lý dành cho những người chưa lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Những lời kinh lúc nhỏ lúc to, lúc trầm lúc bổng hòa điệu với gió trời và tiếng côn trùng ven sông vang lên, tạo nên một bài ca nguyện tuyệt đẹp dâng lên Chúa khi ngày sắp tàn.
Sáng ngày Chúa Nhật hôm sau, chúng tôi hào hứng mặc áo phao và chuẩn bị sẵn sàng để đi đón mọi người đến tham dự Thánh Lễ. Nhìn những chiếc xuồng máy xẻ mặt nước làm đôi và tiến về phía trước, tôi chợt nhận ra ân sủng dạt dào mà Thiên Chúa ban tặng cho ông Cố lớn và giáo điểm nơi đây. Đó là khả năng ứng biến tuyệt vời của những nhà truyền giáo đích thực. Người ta không tự đến nhà thờ được thì mình đón họ tận nơi; không có xe máy, xe hơi thì ta đi “xe tang”, không có cầu thì ta đi xuồng; như cách những người khiêng cáng năm xưa đem người liệt đến nhà Chúa và gỡ mái nhà để có thể đưa bệnh nhân đến gần Chúa mà Tin Mừng kể lại. Có thể nói ông Cố lớn và những người truyền giáo nơi đây đã và đang trở nên mọi sự cho mọi người, để bằng mọi cách, cứu được một số người (x.1Cr 9,22).
Khoảng bảy giờ ba mươi, mọi người đã tụ tập đông đủ cả trong ngoài nhà thờ, dù là lương dân hay người có đạo, hầu hết họ đều mặc “y phục lễ cưới” để sẵn sàng dự “tiệc cưới của Tân Lang trên trời” (x.Mt 22,1-14). Y phục ở đây là những chiếc áo trắng mà mỗi năm ông Cố lớn đều ưu ái tặng cho tất cả bà con. Nếu không được giới thiệu trước, chúng tôi không thể tin vào mắt mình khi thấy gần bốn trăm người lương dân và tân tòng đang cùng nhau đọc kinh, hát thánh ca rập ràng và tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng. Họ cùng nhau đọc Sách Thánh, hát thánh ca, dâng lễ vật và tham dự tích cực suốt hơn một giờ đồng hồ. Có lẽ đây là Thánh Lễ sốt sắng và cảm động nhất mà tôi được tham dự từ trước đến nay.
Sau khi công bố Tin Mừng, ông Cố nhỏ bắt đầu giảng giải cắt nghĩa sứ điệp mà Tin Mừng hôm nay muốn truyền tải. Khởi đi từ việc lắng nghe nỗi khổ đau và sóng gió cuộc đời của mỗi người, ông Cố nhỏ mời gọi mọi người tín thác vào tình yêu quan phòng của Chúa. Sau Thánh Lễ, khi mọi người cả lương lẫn giáo đi học giáo lý, chúng tôi có thời gian ngồi lại bên nhau và chia sẻ những cảm nhận về hoạt động của giáo điểm và những con người nơi đây.
Có những chị em đã bật khóc vì xúc động khi chia sẻ. Và dường như ai trong chúng tôi cũng được đánh động sâu sắc và được làm mới lại đức tin qua cách thực hành đạo của mọi người. Chúng tôi cứ ngỡ mình đến giáo điểm Rạch Vọp này để cho đi một vài món quà vật chất mà chúng tôi đã chuẩn bị, nhưng điều chúng tôi nhận lại còn lớn lao hơn thế. Không chỉ “lá lành đùm lá rách”, nhưng qua sự ân cần hướng dẫn của ông Cố lớn, những người lương giáo nơi đây đều học được cách lãnh nhận để cho đi.
Chúng tôi rời Rạch Vọp trong sự quyến luyến, xúc động và nhiều tâm tình khó để gọi thành tên. Bánh xe lướt nhanh trên đường nhưng sao tôi vẫn thấy lòng mình nặng trĩu. Trên chuyến xe về lại Hội dòng, chúng tôi trở về không chỉ với những bịch tắc, quả mướp, quả chanh hay những bó rau nho nhỏ vườn nhà mà người lương dân biếu tặng, nhưng dường như chúng tôi mang theo cả những mảng lục bình dập dìu bên mép nước, cả đức tin chân chất của những “Kitô hữu vô danh”. Và đâu đó, hình như dòng sông Rạch Vọp không chỉ chảy qua miền sông nước đậm chất thơ này, bởi tôi thấy lòng mình gợn sóng và có một dòng sông bắt đầu chảy, chảy mãi…trong tôi.
Ngọc Trong Cát













































































































