Thứ Tư Tuần XXV TN – Năm C: Ra Quân
Thứ tư tuần XXV: Lc 9, 1-6

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, Đức Giê-su tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2 Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3 Người nói : “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4 Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5 Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” 6 Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi.
RA QUÂN
Nếu thánh Phaolô khuyên Timôthê đồng lao cộng khổ như một lính chiến tinh nhuệ, thì chúng ta có thể sánh ví các tông đồ như những tân binh của Đức Kitô. Suốt mấy năm được Thầy Chí Thánh huấn luyện, các tông đồ như được rèn luyện trong quân trường. Hôm nay, Chúa cho các ông xuất quân.
Để các tông đồ đạt được kết quả, Chúa Giêsu đã trang bị cho các ông đủ quyền năng và uy lực, khả dĩ đánh bại quỷ thần, chữa lành các bệnh nhân và nhất là loan báo Tin Mừng cứu độ.
Địa bàn truyền giáo.
Các tông đồ là những tân binh, kinh nghiệm chưa nhiều, nên các ngài chỉ đóng vai chuẩn bị đường cho Chúa. Do đó địa bàn truyền giáo của các ông là các vùng chung quanh biển Hồ Gennedaret. Nơi cư ngụ của đa phần dân gốc Do Thái, cùng chung ngôn ngữ, phong tục và tôn giáo. Tuy vậy các ngài sẽ phải đối đầu với các Kinh sư và Biệt phái, đang có ảnh hưởng lớn trên dân. Vậy đâu là những điều Chúa Giêsu đòi hỏi nơi các tông đồ?
Thưa thứ nhất là sự thanh thoát: “Anh em đừng mang gì đi đường, bao bị, tiền bạc hay áo xống”. Đây là những vật dụng cần thiết, tại sao Chúa không cho các ngài mang theo? Thiết nghĩ Chúa muốn các ngài sống thanh thoát và nghèo khó như Thầy mình “Chim có tổ, chồn có hang nhưng Con Người không có chỗ dựa đầu” (Mt 8, 20). Thật ra khi nhìn vào cuộc sống của Chúa và các tông đồ, chúng ta thấy các ngài vẫn có của nuôi “hằng ngày dùng đủ”, thợ xứng đáng được nuôi ăn hằng ngày mà! Sự thanh thoát tạo cho các ngài hai cái lợi: Tập trung toàn tâm toàn lực vào việc rao giảng; thứ đến tăng thêm niềm tín thác vào tình thương của Chúa Quan Phòng (Mt 6, 25-34).
Đức tính thứ hai là kiên trì: “khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó cho đến khi ra đi nơi khác”. Trong một trình thuật khác, Chúa đã ví việc rao giảng Tìn Mừng như đi gieo giống tốt vào ruộng. Người gieo sẽ chăm bón, nhổ cỏ và chờ ngày thu hoạch. Tiến trình canh tác ấy đòi hỏi sự kiên nhẫn và cần cù. Điều này lại càng cần thiết hơn trong lãnh vực thiêng liêng!
Đức tính thứ ba là người tông đồ phải can đảm chấp nhận sự chống đối và khước từ của thính giả. Nếu Thầy Giêsu khi đến trong nhà Ngài, người nhà đã không đón nhận Ngài (Ga 1, 11), thì các môn đệ Ngài không thể tránh sự khước từ như thế đến từ thính giả.
- Sứ điệp Tin Mừng
Người ta thường nói: Niềm vui được chia sẻ, là niềm vui nhân lên gấp đôi. Tin Mừng của Đức Kitô vốn dĩ là niềm vui cho toàn dân (Lc 2, 10). Các môn đệ hẳn được Chúa dành cho niềm vui gấp đôi ấy. Chúng ta có thể hình dung cảnh tượng ra quân của các tông đồ. Các ông ra đi như các lính chiến được trang bị vũ khí để đánh bại ma quỷ, các ông lại có sẵn phương dược chữa lành muôn vàn bệnh tật.
Kitô hữu trải qua bao thế hệ được Giáo hội sai đi xa, thật xa, đến tận chân trời góc biển. Nhiều vô kể những khó khăn về ngôn ngữ, phong tục, chống đối, bách hại… Nhưng lịch sử đã đánh giá cao sự can đảm và tình yêu của các chứng nhân Tin Mừng ấy.
Ngày nay Giáo Hội cần biết bao những nhà truyền giáo ngang tầm ra đi theo tiếng gọi. Các nhà truyền giáo cần có một đức tin để không bao giờ bỏ cuộc. Tác giả thư Do Thái khẳng định: “Chúng ta không phải là những người bỏ cuộc để phải diệt vong, nhưng là những người có niềm tin để được cứu rỗi” (Dt 10, 39).
Hơn bao giờ hết, Giáo Hội mong có những chiến sĩ tự do như thánh Phaolô đã mô tả: “Chính để anh em được tự do mà Đức Kitô đã giải phóng anh em. Nhưng anh em đừng lấy nê tự do mà sống phóng túng, hãy lấy đức Ái mà phục vụ lẫn nhau” (GI 5, 13).
M. Dominico Phạm Văn Hiền – VP. Đan Sĩ Xitô Phước Sơn