Chuyện kể trên đường sứ vụ

Em đi Đa Kim II nhé!”

Lời nhắn của chị Tổng Phụ trách khiến tôi có chút ngỡ ngàng. Khi ấy, tôi đang phục vụ tại cộng đoàn với những công việc âm thầm, nhỏ bé của đời sống hằng ngày. Nhưng với lời khấn vâng phục, tôi đón nhận sứ vụ trong sự bình an, lặng lẽ chuẩn bị tâm thế để lên đường. Trong lòng vẫn còn đó những băn khoăn rất đỗi con người: lên vùng đất ấy, tôi sẽ làm được gì? Tôi chỉ biết phó thác và thưa với Chúa: xin Ngài dẫn con đi, xin Ngài tự tay toan liệu.

Ngày 20/9/2007, tôi cùng hai chị em khác lên đường, đi chung xe với nhóm giáo dân Giáo xứ Phước An để đến thăm cha Phanxicô Assidi Nguyễn Văn Quang tại giáo điểm Đa Kim II. Chặng đường thật gian nan. Những con đèo nối tiếp nhau, đá sỏi lởm chởm, có đoạn xe gần như không thể leo nổi. Có lúc, phụ xế phải xuống xe, tìm đá hay thanh gỗ chèn bánh để xe khỏi trôi ngược xuống dốc. Ngồi phía trước, nhìn con đường cheo leo trước mắt, tôi vừa hồi hộp vừa thoáng nghĩ vui trong lòng: “Đường thế này, chắc mai mốt khó mà về nhà Dòng tĩnh tâm!”

Sau bao đoạn đường gập ghềnh, Chúa cũng cho chúng tôi đến nơi bình an. Những lời chào hỏi giản dị nhanh chóng nối kết mọi người lại với nhau. Bữa cơm thân mật giữa cha xứ và bà con giáo họ diễn ra trong bầu khí ấm áp. Khi trời dần về tối, mọi người lo thu xếp chỗ nghỉ. Đêm vùng cao lạnh buốt, cái lạnh thấm vào da thịt, nhưng lòng người lại ấm lên nhờ sự đón tiếp chân thành.

Sáng hôm sau, thức dậy giữa một không gian hoàn toàn mới: phong cảnh mới, con người mới. Giáo dân nơi đây phần lớn là người miền Bắc di cư, Giáo họ Đa Kim II gần như toàn tòng. Ba chị em chúng tôi bắt đầu làm quen với nhịp sống và công việc mục vụ. Tôi tự nhủ: bà con sống được nơi này, thì mình cũng phải học cách ở lại và đồng hành với họ. Dần dần, qua những sinh hoạt phụng vụ, Thánh lễ và đời sống thường ngày, chúng tôi hiểu hơn phong tục, tập quán và đời sống đức tin của cộng đoàn.

Những chuyến đi thăm viếng mở ra trước mắt chúng tôi nhiều hoàn cảnh đau khổ. Có nhà ở rất xa, phải băng rừng, lội suối, đi qua những chiếc cầu khỉ mong manh. Nhưng chính trong những hành trình ấy, tôi cảm nhận rõ hơn tình yêu Chúa rộng lớn và bền bỉ. Có lần, đi trao Mình Thánh Chúa cho một bệnh nhân, nhưng khi đến nơi thì người ấy đã được đưa đi bệnh viện. Chúng tôi lặng lẽ kiệu Mình Thánh Chúa trở về, mang theo trong lòng một nỗi xót xa và lời cầu nguyện thầm kín.

Khí hậu vùng cao khắc nghiệt, mưa như trút nước, đường sá bị xói mòn. Thế nhưng, tôi tin rằng Chúa không bao giờ bỏ rơi những người Ngài sai đi. Cha xứ có nhiều người quen ghé thăm, mang theo những phần quà rất đỗi bình dị: gạo, mì tôm, nước mắm, xì dầu… Cha lại chia sẻ cho cộng đoàn và bà con. Có lần, cha chở về một xe bán tải nhỏ đầy quần áo cũ. Chị em phân loại rồi mời giáo dân đến, ai dùng được gì thì lấy. Có hôm, cha mang về một số áo dài mới nhưng đã lỗi mốt; chúng tôi tận dụng, chỉnh sửa lại làm trang phục múa cho các em thiếu nhi. Niềm vui ở đây thật đơn sơ mà ấm áp.

Một ngày mưa lớn, đường bộ bị chia cắt. Tôi nói với một chị em trong cộng đoàn: “Hai chị em mình gánh mì tôm với xì dầu vào làng bên kia sông cho bà con nhé!”
Hai chị em khoác áo mưa, đội nón, bỏ đồ vào giỏ lác rồi gánh lên vai, người trước kẻ sau lội nước mà đi. Chợt nhớ đến hình ảnh những nhà truyền giáo thuở trước, gióng gánh trên vai để đến với con chiên, tôi thấy mình được nối dài trong cùng một hành trình. Ai nhìn thấy chúng tôi cũng không khỏi ngạc nhiên.

Đến từng nhà, chúng tôi gọi:

“Mẹ ơi, nhà mình có cần thêm mì tôm, xì dầu không ạ?”

Có người đáp vọng ra:

“Tôi không mua đâu, tôi có rồi.”

Hai chị em nhìn nhau, rồi bảo: – “Mình cứ vào nhà luôn nhé!”

Khi nhận ra chúng tôi, chủ nhà vội nói: – “Rì ơi, con xin lỗi hai Rì, con tưởng bà nào đi bán hàng…”

Cả nhà cùng bật cười. Ngày hôm đó, dầm mưa suốt buổi, nhưng Chúa vẫn cho chúng tôi bình an, không đau ốm. Nỗi thao thức thăm viếng và tinh thần truyền giáo vẫn âm thầm cháy trong lòng chị em.

Riêng tôi, mỗi lần về nhà Dòng, qua những con đèo quanh co, thấy anh chị em dân tộc bẻ măng, chở theo con nhỏ, xe máy hư hoặc hết xăng, lòng tôi không khỏi chạnh thương. Tôi thường mang theo can nhựa 5 lít để mua xăng dự trữ. Có lần gặp một anh dân tộc đang dắt bộ xe, tôi dừng lại nói: “Tới đây, cô cho xăng nè!”
Anh ngạc nhiên và vui mừng, chỉ xin vừa đủ xăng để về tới Lộc Thành. Những điều rất nhỏ ấy giúp tôi xác tín hơn rằng: truyền giáo có thể diễn ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào.

Vì là giáo điểm truyền giáo, chị em chúng tôi được Giáo phận nâng đỡ bằng một khoản trợ cấp nhỏ hằng tháng (thời Đức cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan), như một sự khích lệ tinh thần. Bên cạnh đó, nhiều đoàn cũng ghé thăm, chia sẻ lương thực, giúp chúng tôi có thêm điều kiện để đồng hành với bà con.

Khi Đức cha Giuse Vũ Duy Thống về nhận Giáo phận Phan Thiết, tôi có dịp đi đón ngài tại Giáo xứ Mẹ Thiên Chúa. Câu nói của ngài khiến tôi nhớ mãi: – “Đơn giản, tôi là người của Phan Thiết.”

Một năm sau, trong chuyến kinh lý giáo điểm Đa Kim II, Đức cha ghé thăm cộng đoàn. Ngài nhìn căn nhà vách tre, cột gỗ rồi hỏi: – “Con lên đây ở, con thấy thế nào?”

Tôi thưa: – “Con xin mượn lại lời của Đức cha ngày về nhận Giáo phận: đơn giản, con là người của Đa Kim II.”

Cha con cùng mỉm cười vui vẻ.

Truyền giáo không bao giờ khép lại, nhưng luôn tiếp nối. Một Tuần Thánh nọ, khi đang chuẩn bị đại lễ tại Đa Kim II, tôi được gọi đi phục vụ Tuần Thánh tại đảo Phú Quý. Lại khăn gói lên đường, vượt biển trong những cơn say sóng, nhưng lòng thì đầy ắp niềm vui và tinh thần truyền giáo.

Sau một tuần phục vụ nơi đảo xa, tôi nhận ra nơi ấy còn nhiều con chiên đang cần được nâng đỡ. Tôi thầm ước mong có thêm nhiều tông đồ nhiệt thành đến gieo vãi hạt giống Tin Mừng.

Nhìn lại hành trình đã qua, tôi xác tín rằng: khi mang trong mình lòng nhiệt thành truyền giáo, mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện đều có thể trở thành con đường loan báo Tin Mừng. Và ở đâu có sự hiện diện khiêm tốn, chân thành và yêu thương, ở đó Tin Mừng vẫn đang âm thầm được gieo xuống giữa đời.

Anna Nguyễn Thị Thanh Thủy

Bài viết cùng chuyên mục

Back to top button