Bản Ghi Chú Hành Trình Hy Vọng: Sáu Mươi Năm Đối Thoại Liên Tôn Và Tình Huynh Đệ Dưới Ánh Sáng Tuyên Ngôn Công Đồng Nostra Aetate

Nhân kỷ niệm 60 năm ban hành Tuyên ngôn Nostra Aetate của Công đồng Vaticanô II, Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu và Bộ Đối thoại Liên tôn đã công bố Bản ghi chú Hành trình hy vọng. Văn kiện nhìn lại những thành quả và thách đố của sáu thập niên đối thoại liên tôn, đồng thời đề ra những định hướng nhằm thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau và xây dựng tình huynh đệ, hòa bình trong thế giới hôm nay.
BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
BỘ CỔ VÕ CÁC KITÔ HỮU HIỆP NHẤT
BỘ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN
BẢN GHI CHÚ
HÀNH TRÌNH HY VỌNG
Sáu mươi năm đối thoại liên tôn và tình huynh đệ dưới ánh sáng Tuyên ngôn công đồng Nostra aetate
I. Dẫn Nhập
1. Vào ngày 28 tháng 10 năm 1965, Tuyên ngôn của Công đồng Vatican II “về mối liên hệ của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo” đã mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ giữa Công giáo, dân tộc Do Thái và các tín đồ của các tôn giáo cũng như truyền thống tâm linh khác. Vượt xa một văn kiện đơn thuần, Tuyên ngôn đã đánh dấu một sự thay đổi sâu xa trong cách Giáo hội hiểu và diễn tả mối tương quan của mình với những người theo các tôn giáo khác. Trong Tuyên ngôn ấy, Giáo hội minh nhiên khẳng định rằng “Giáo hội Công giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo ấy”, đồng thời mời gọi các Kitô hữu bày tỏ với lòng kính trọng chân thành “những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết của các tôn giáo,” của họ.[1] Được biên soạn giữa sức sống sáng tạo và tinh thần huynh đệ của Công đồng, Tuyên ngôn vẫn giữ nguyên tính thời sự trong một thế giới được ghi dấu, một mặt, bởi những thái độ khép kín và thiếu cởi mở đang lan rộng, mặt khác, bởi khát vọng về một cuộc chung sống hòa bình trong một nền công dân toàn cầu được xây dựng trên tình huynh đệ và sự nhìn nhận lẫn nhau.
2. Nhìn dưới ánh sáng này, Nostra aetate hòa hợp với một Tuyên ngôn khác của Công đồng về tự do tôn giáo (Dignitatis humanae), tập trung vào quyền tự do tôn giáo. Không một mối tương quan tôn trọng nào với các tôn giáo khác có thể chân thật hay khả thi nếu không đi kèm với sự tôn trọng tương ứng đối với tự do tôn giáo của người khác: “Đòi hỏi về tự do trong xã hội loài người trước hết liên hệ đến việc theo đuổi những giá trị thích hợp với tinh thần con người; và đặc biệt là quyền tự do thực hành tôn giáo trong xã hội.”[2] Xác tín này dẫn chúng tôi đến việc kêu gọi cho các Kitô hữu đang sống như những cộng đồng thiểu số tại các quốc gia khác cũng được hưởng cùng một quyền tự do ấy.[3]
3. Sáu mươi năm sau khi được ban hành, Nostra aetate vẫn tiếp tục khơi nguồn cảm hứng cho những định hướng mục vụ và thần học của Giáo hội, đồng thời nuôi dưỡng cuộc đối thoại vốn là hình thức nền tảng của đời sống con người và ngày càng trở nên thiết yếu hơn trong các xã hội hiện đại chúng ta.
Tuy nhiên, cuộc đối thoại ấy cũng đặt ra một thách đố thường trực: Làm thế nào để dung hòa lòng trung thành với căn tính Kitô giáo với sự cởi mở chân thành trước sự khác biệt nơi các tôn giáo khác? Làm thế nào để hiện thực hóa lời mời gọi sống tình huynh đệ phổ quát trong các xã hội ngày càng đa dạng về văn hóa và tôn giáo, đang chịu tác động của chiến tranh và bạo lực, đồng thời đối diện với xu hướng tục hóa ngày càng gia tăng? Tài liệu kỷ niệm này nhằm điểm lại những chặng đường thiết yếu của tiến trình đối thoại liên tôn kể từ khi Nostra aetate được ban hành, đánh giá những hoa trái cũng như những thách đố của hành trình đối thoại liên tôn, và phác thảo một số định hướng cho tương lai.
Nguồn gốc và phạm vi của Nostra aetate: Một đáp trả trước thảm họa Shoah
4. Tuyên ngôn Nostra aetate ra đời trong giai đoạn hậu Thế chiến thứ hai. Ban đầu, văn kiện này không được phác thảo như một tài liệu về cuộc đối thoại với các tôn giáo khác, nhưng trước hết như một lời đáp trả trước những hậu quả bi thảm của chủ nghĩa bài Do Thái, vốn đã lên tới đỉnh điểm trong thảm họa Shoah. Do đã sớm ý thức sâu sắc về vấn đề này, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII đã gặp gỡ học giả Do Thái Jules Isaac qua sự trung gian của bà Maria Vingiani, người sáng lập Thư ký Hoạt động Đại kết. Sau cuộc gặp gỡ này, Ngài đã giao cho Đức Hồng y Augustin Bea soạn thảo một văn bản của Công đồng, với mục đích chữa lành những tổn thương và canh tân mối tương quan giữa Giáo hội và dân tộc Do Thái. Dự án này đã tiếp tục được phát triển trong các kỳ họp của Thánh Công đồng Vatican II và cuối cùng mang hình thái cụ thể trong một văn kiện mà như hạt cải trong Tin mừng (x. Mk 4,31-32) đã vươn lên vượt ngoài mọi mong đợi, trở thành một cây đại thụ vươn cành che chở không chỉ mối quan hệ với Do Thái giáo mà cả cuộc đối thoại với các tôn giáo khác nhau. Trong văn kiện này, ta có thể nhận thấy một sự cởi mở ngày càng mang tính phổ quát, mà Giáo hội mong muốn thể hiện đối với các tín đồ thuộc những truyền thống tôn giáo khác, trong tinh thần tôn trọng và cùng nhau tìm kiếm chân lý.
5. Nền tảng của cuộc đối thoại Công giáo – Do Thái giáo chính thức và mang tính thể chế được đặt nơi số 4 của Tuyên ngôn. Đây là lời khẳng định đầu tiên của Huấn quyền minh nhiên nhìn nhận những cội nguồn Do Thái của Kitô giáo. Tuyên ngôn trích dẫn Rm 9,4-5, qua đó khẳng định rằng các tổ phụ thuộc về dân Israel và Đức Kitô, xét theo huyết nhục, đã xuất thân từ dân ấy. Tuyên ngôn cũng khẳng định rằng “các Tông đồ, nền móng và cột trụ Giáo hội, cũng như nhiều môn đệ đầu tiên của các ngài, những người loan báo Tin mừng Chúa Kitô cho trần gian, đã sinh ra từ dân tộc Do Thái.”[4] Về phương diện này, khi nói về con người Đức Giêsu, một văn kiện của Ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Do Thái giáo thuộc Ban Thư ký Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu (nay là Bộ Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu) giải thích:
“Đức Giêsu là một người Do Thái và luôn luôn vẫn là một người Do Thái […]. Đức Giêsu thực sự là một con người thuộc về thời đại và môi trường sống của Người: đó là môi trường Do Thái tại Palestine vào thế kỷ thứ nhất, với những ưu tư và niềm hy vọng mà Người cùng chia sẻ. Điều này không chỉ làm nổi bật cả thực tại của mầu nhiệm Nhập Thể lẫn chính ý nghĩa của lịch sử cứu độ, như đã được mặc khải trong Kinh thánh (x. Rm 1,3-4; Gl 4,4-5).” [5] Theo lời của Thánh sử Gioan (x. Ga 1,14), được nhà thần học Tin Lành K. Barth diễn giải lại, Lời đã trở nên “xác phàm Do Thái”[6] và cư ngụ giữa chúng ta. Nơi cư ngụ của Đức Giêsu chính là Do Thái giáo thời Người, mảnh đất nguyên thủy từ đó phát triển Ecclesia ex circumcisione, và sau đó là Ecclesia ex gentibus (như được minh họa chẳng hạn qua bức khảm tại Vương cung Thánh đường Santa Sabina ở Rôma).
Đối thoại với các tôn giáo ngoài Kitô giáo
6. Ngay từ khi khai mạc Công đồng Vatican II vào năm 1962, Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, người được xem là “vị tiên phong của sự đối thoại,” [7] đã minh nhiên kêu gọi cổ võ không chỉ sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu, mà còn cả một tình huynh đệ rộng lớn hơn với các tín đồ thuộc những tôn giáo khác, được xây dựng trên sự “kính trọng chân thành” lẫn nhau.[8] Tầm nhìn vừa mang đậm tính nhân bản vừa sâu sắc theo tinh thần Tin mừng dần dần được định hình một cách tỏ tường ngày càng gia tăng về mặt thần học và mục vụ: cuộc gặp gỡ với tha nhân trong sự tôn trọng là một điều kiện không thể thiếu để sống trọn vẹn Tin mừng. Vài tháng sau, trong Thông điệp Pacem in Terris, vị Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô VI đã kêu gọi mọi người tôn trọng phẩm giá của mỗi con người.[9]
7. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã xác nhận đường hướng này trong Thông điệp Ecclesiam Suam, khi mời gọi Giáo hội “bắt buộc phải mở rộng tương quan với thế giới”.[10] Theo Thông điệp này, Giáo hội được mời gọi dấn thân với lòng nhiệt thành mới vào một “cuộc đối thoại được thực hiện với tất cả những người thiện chí, cả bên trong lẫn bên ngoài Giáo hội”,[11] không loại trừ bất cứ ai, đồng thời tôn trọng những đặc điểm riêng và những năng động đặc thù của từng bối cảnh đối thoại.
Tầm nhìn về một cuộc đối thoại được tổ chức theo phương pháp thành những vòng tròn khác nhau: đối thoại vì hòa bình, đối thoại với những người tin vào Thiên Chúa, và đối thoại với những anh em Kitô giáo ly khai[12] đã trở thành một khuôn mẫu định hướng cho sự phát triển của đối thoại đại kết, đối thoại liên tôn và đối thoại liên văn hóa trong thời kỳ hậu Công đồng.
Được đặt nền tảng trên sự soi sáng nơi giáo lý, việc lắng nghe chân thành và sự tôn trọng sâu xa đối với những người mà các Kitô hữu đối thoại, cách tiếp cận này được nhìn nhận như một yếu tố thiết yếu trong sứ mạng của Giáo hội.[13] Vì thế, Giáo hội công khai khẳng định rằng con đường đối thoại không phải là một chiến lược tình thế, cũng không phải là sự từ bỏ căn tính của mình, nhưng là một con đường đích thực theo tinh thần Tin mừng.
8. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã nhấn mạnh đóng góp đặc thù của Nostra aetate vào buổi bế mạc Công đồng Vaticanô II: “Ước gì những anh chị em Kitô hữu thân yêu của chúng ta, những người vẫn còn ly khai khỏi sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo, nhận ra nơi biểu hiện này một diện mạo của Giáo hội đã trở nên xinh đẹp hơn. Và ước gì những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, đặc biệt là Do Thái giáo, những người mà mối dây liên hệ với Abraham kết hiệp chúng ta cũng nhìn nhận [văn kiện này] không phải như một đối tượng để trách cứ hay nghi ngờ, nhưng như một biểu hiện của sự tôn trọng, tình yêu và niềm hy vọng. Bởi Giáo hội tiến bước trong sự vững chắc của chân lý và đức tin, đồng thời trong việc lan tỏa công lý và đức ái. Chính như thế mà Giáo hội sống.”[14]
9. Nostra aetate làm sáng tỏ một nguyên tắc nền tảng. Sự kính trọng và lòng quý mến là những nền tảng không thể thiếu của đối thoại liên tôn và của mối tương quan với Do Thái giáo, nhờ đó có thể vượt qua những thái độ loại trừ, khinh miệt hay dửng dưng vốn đã tồn tại từ lâu:
“Chúng ta không thể kêu cầu Thiên Chúa là Cha của mọi người, nếu chúng ta từ chối cư xử cách huynh đệ với một số người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. […] Giáo hội lên án, vì xa lạ với tinh thần của Đức Kitô, mọi sự kỳ thị đối với con người hoặc mọi hành vi sách nhiễu họ vì lý do chủng tộc, màu da, hoàn cảnh sống hay tôn giáo.”[15] Theo nghĩa này, Tuyên ngôn được đặt trong viễn tượng nhân học tương quan của Gaudium et Spes, trong đó tha nhân không được nhìn nhận như một mối đe dọa, nhưng được đón nhận như một người đối thoại, cùng với họ xây dựng, trong tinh thần hỗ tương, một xã hội công bằng và huynh đệ hơn.
Tính chất đặc thù của cuộc đối thoại với dân Do Thái
10. Do Thái hiện đại và Kitô giáo đương đại đều đặt nền tảng trên Lời được mặc khải trong Cựu ước và cùng truy nguyên cội nguồn của mình nơi Do Thái giáo vào thời Đức Giêsu. Sau khi Đền Thờ Giêrusalem bị phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên, Do Thái giáo dần dần phát triển chủ yếu thành Do Thái giáo Rabbinic, trong khi Kitô giáo thời kỳ đầu phát triển từ phong trào do Đức Giêsu và các môn đệ của Người khởi xướng, rồi theo thời gian phân biệt mình với các hình thức khác nhau của Do Thái giáo.
Cùng với Đức Giêsu, Đấng vốn là một người Do Thái, các Kitô hữu tiên khởi về cơ bản đã tiếp nhận những nguyên tắc của Do Thái giáo như chúng hiện hữu vào thời đó, đồng thời thích ứng những nguyên tắc ấy với hoàn cảnh mới sau biến cố Phục Sinh.
Theo đó, Nostra aetate khẳng định: “Vì Kitô hữu và người Do Thái cùng có chung một di sản thiêng liêng thật cao quý, nên Công đồng muốn cổ võ và khuyến khích hai bên hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, nhất là bằng sự học hỏi Kinh thánh và thần học cũng như bằng việc đối thoại huynh đệ”[16] Di sản phong phú được cùng chia sẻ này là một nền tảng vững chắc và một kho tàng đích thực cho cuộc đối thoại người Do Thái và Kitô giáo.
11. Tuy nhiên, những gì Đức Giêsu mang vào Kitô giáo như một di sản trở thành một phần của chính cấu trúc thần học của Kitô giáo. Trong phần có tựa đề “Những chủ đề nền tảng trong Kinh thánh của Do Thái giáo và việc tiếp nhận những chủ đề ấy trong đức tin vào Đức Kitô” (số 19–65), văn kiện của Ủy ban Kinh thánh Giáo hoàng, Do Thái giáo và Kinh thánh của họ trong Kinh thánh Kitô giáo (ngày 24 tháng 5 năm 2001), đề cập đến những khía cạnh chủ yếu của Kinh thánh và cách thức giải thích chúng. Đây là một văn kiện có giá trị lớn.
12. Quả vậy, người Do Thái và các Kitô hữu cùng chia sẻ xác tín rằng Thiên Chúa của Israel đã mặc khải chính mình qua Lời của Người, và qua đó ngỏ lời với con người. Tương tự, người Do Thái và Kitô giáo cùng chia sẻ niềm tin rằng Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa trời đất, đã tạo dựng không gian sống là nơi con người cư ngụ, đồng thời bao bọc và gìn giữ không gian ấy; rằng con người, được tạo dựng theo “hình ảnh Thiên Chúa” (x. St 1,26-27), đã được trao phó trách nhiệm quản lý công trình tạo dựng và vì thế phải đảm nhận trách nhiệm thích đáng đối với công trình ấy; và rằng mỗi người đều có trách nhiệm đối với sự an lành của anh chị em mình, đặc biệt là những người nghèo.[17] Mọi giáo huấn luân lý liên quan đến mối tương quan đúng đắn giữa con người với Thiên Chúa, con người với thế giới xung quanh và với tha nhân đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và từ phẩm giá của mỗi con người, phát xuất từ việc được tạo dựng theo “hình ảnh Thiên Chúa”. Cũng như Do Thái giáo Rabbinic, Kitô giáo đã đón nhận Mười Điều Răn, những điều răn này cũng trở thành một di sản luân lý được nhiều người nhìn nhận.
Giới răn kép về tình yêu mà Đức Giêsu truyền dạy đó là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực, đồng thời yêu thương người thân cận như chính mình (x. Mc 12,30-31; Mt 22,37-39; Lc 10,27) được rút ra từ Cựu ước (x. Đnl 6,5 và Lv 19,18), mặc dù trong Cựu ước, hai giới răn này không được nối kết với nhau cách minh nhiên. Vì lý do đó, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã gọi người Do Thái là “những bậc cha ông trong đức tin” của người Kitô hữu.[18] và nhấn mạnh rằng cuộc đối thoại giữa hai niềm tin phải bắt đầu từ lòng biết ơn của các Kitô hữu đối với Do Thái giáo, bởi vì, bất chấp những khó khăn mà họ đã phải chịu đựng, họ vẫn gìn giữ đức tin vào Thiên Chúa duy nhất. Theo đó, Đức Hồng y Ratzinger khi ấy có thể khẳng định rằng: “Để cuộc đối thoại như thế sinh hoa trái, cuộc đối thoại phải bắt đầu bằng lời cầu nguyện với Thiên Chúa của chúng ta, xin Người trước hết ban cho chúng ta, những người Kitô hữu, lòng quý trọng và tình yêu lớn lao hơn đối với dân này, dân Israel.”[19]
13. Ý thức được di sản thiêng liêng phong phú mà người Do Thái và các Kitô hữu cùng chia sẻ, chúng ta dễ dàng hiểu rằng đối thoại Do Thái giáo và Kitô giáo không thể được xem như một hoạt động thứ yếu đối với các Kitô hữu, chỉ nhằm đạt tới một sự hiểu biết tốt hơn về Do Thái giáo, vun đắp những mối tương quan ngoại giao, hay thậm chí chỉ đơn giản là nuôi dưỡng tình bằng hữu với dân Do Thái. Đúng hơn, đây là vấn đề giúp người Kitô hữu ý thức cách trọn vẹn về căn tính nguyên thủy của chính mình. Giao ước của Thiên Chúa với dân Do Thái là bất khả thu hồi, [20], và điều này không ngừng đặt ra một thách đố cho Giáo hội. Điều ấy không có nghĩa, đối với các Kitô hữu, rằng có hai con đường dẫn đến ơn cứu độ,[21] hay rằng giao ước với dân Do Thái song song với con đường cứu độ của Kitô giáo: Hội thánh dạy rằng Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất.[22]
Tuy nhiên, giao ước bất khả thu hồi này mang một ý nghĩa thần học sâu xa. Người Kitô hữu càng hiểu biết và yêu mến những truyền thống cội nguồn nơi Do Thái giáo, thì càng hiểu rõ chính mình hơn trong việc sống đức tin, và căn tính tôn giáo của mình càng được củng cố, mặc dù để điều này có thể diễn ra, các Kitô hữu cần hiểu biết sâu sắc truyền thống đức tin của chính mình đã được bén rễ vững chắc nơi đó.
Khi khẳng định trong tương quan với Do Thái giáo, rằng chúng ta không thể thiếu nhau, điều này cũng hàm ý rằng đời sống tôn giáo của người Do Thái đương thời, chứ không chỉ đời sống gắn liền với Cựu ước, có liên hệ và ý nghĩa đối với các Kitô hữu. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã khẳng định điều này như sau: “Thiên Chúa vẫn tiếp tục hoạt động nơi dân của Giao ước Cũ.”[23] Quả vậy, đời sống tôn giáo của người Do Thái có thể được nhìn nhận như một hoa trái của Lời đã được mặc khải, Lời luôn sống động và hữu hiệu, mà họ đã lãnh nhận; vì thế, đời sống ấy mang một giá trị hiện tại và năng động, luôn có khả năng làm phong phú chúng ta (x. Rm 11,29).
Do đó, điều hết sức quan trọng là phải đào sâu sự hiểu biết về mối tương quan với Do Thái giáo trên các bình diện Kinh thánh, chú giải, phụng vụ và thần học, phù hợp với những nguyên tắc được trình bày trong các Hiến chế Công đồng Dei Verbum và Lumen Gentium.
14. Tình liên đới này với Do Thái giáo cũng bao hàm việc cùng nhau đấu tranh chống chủ nghĩa bài Do Thái. Tuyên ngôn Nostra aetate đã minh nhiên khẳng định rằng Giáo hội “lên án sự thù ghét, những cuộc bách hại và những biểu hiện của chủ nghĩa bài [24] qua đó vừa tái khẳng định, vừa đồng thời vượt xa những gì đã được Thánh Bộ Tối cao của Tòa thánh về Thánh Bộ Đức tin tuyên bố ngày 25 tháng 3 năm 1928.[25] Trong suốt dòng lịch sử, kể cả trong thời đại chúng ta, chủ nghĩa bài Do Thái đã biểu lộ dưới những hình thức tàn bạo; nhưng chắc chắn, thời khắc đen tối nhất của nó là Shoah. Về vấn đề này, những lời của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI trong buổi Tiếp kiến chung ngày 28 tháng 1 năm 2009 đã diễn ra một ngày sau Ngày Tưởng niệm Shoah hằng năm vẫn còn hết sức chính xác và mạnh mẽ:
“Trong những ngày này, khi chúng ta tưởng niệm Shoah, những hình ảnh lại hiện lên trong tâm trí tôi từ những lần tôi nhiều lần viếng thăm Auschwitz, một trong những trại tập trung, nơi đã diễn ra cuộc tàn sát ghê tởm hàng triệu người Do Thái, những nạn nhân vô tội của một lòng thù hận mù quáng dựa trên chủng tộc và tôn giáo. Trong tâm tình quý mến nhắc lại một lần nữa lời khẳng định về tình liên đới trọn vẹn và không thể nghi ngờ của tôi với những người anh chị em cùng lãnh nhận Giao ước thứ Nhất, tôi hy vọng rằng ký ức về Shoah sẽ dẫn nhân loại đến chỗ suy tư về sức mạnh khôn dò của sự dữ khi nó chiếm ngự tâm hồn con người.
Ước gì Shoah trở thành một lời cảnh báo cho tất cả mọi người, chống lại sự lãng quên, phủ nhận hay giản lược, bởi bạo lực được thực hiện đối với chỉ một con người cũng là bạo lực chống lại tất cả mọi người. Không ai là một hòn đảo biệt lập, như lời một thi sĩ nổi tiếng đã viết.
Ước gì Shoah dạy cho cả các thế hệ xưa cũng như các thế hệ hiện sinh rằng chỉ qua con đường thách đố của lắng nghe và đối thoại, của tình yêu và tha thứ, mới dẫn các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo trên thế giới đến mục tiêu mà họ hằng mong ước: tình huynh đệ và hòa bình trong chân lý. Ước gì bạo lực không còn làm suy giảm phẩm giá con người![26]
15. Những cuộc xung đột bùng nổ tại Trung Đông trong những năm gần đây cũng đã để lại dấu ấn trên cuộc đối thoại giữa dân Do Thái và Kitô giáo. Nhiều kênh liên lạc đã trở nên căng thẳng và tiếp tục chịu thử thách bởi những cách diễn giải khác nhau về các biến cố đã xảy ra; những cách diễn giải này thường không hoàn toàn đồng nhất, ngay cả trong nội bộ của chính các cộng đoàn tôn giáo liên hệ. Tuy nhiên, những trụ cột của cuộc đối thoại giữa các tín hữu, được xây dựng qua hơn sáu mươi năm nỗ lực chung, vẫn đứng vững. Trên những nền tảng ấy, chúng ta vừa khả thi vừa cần phải tiếp tục xây dựng, một lần nữa lấy cảm hứng từ những khuyến nghị của các Nghị phụ Công đồng, đó là gia tăng sự hiểu biết và lòng quý trọng lẫn nhau “nhất là nhờ việc nghiên cứu Kinh thánh và thần học, cũng như nhờ đối thoại huynh đệ”.[27]
II. Những phát triển hậu công đồng: một sự tiếp nối được phong phú hóa bởi các Giáo hoàng kế nhiệm
Thánh Giáo hoàng Phaolô VI
16. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã đặt thái độ mới của Giáo hội đối với các tín ngưỡng và truyền thống tôn giáo khác vốn được hình thành từ Công đồng Vaticanô II trong khuôn khổ “đối thoại với thế giới” được trình bày trong Thông điệp Ecclesiam Suam (1964). Khuôn khổ này tiếp tục được đào sâu và phát triển trong các giáo huấn của Huấn quyền sau đó. Như Thánh Giáo hoàng Phaolô VI nhắc lại trong Thông điệp Populorum Progressio (1967): “sự phát triển đích thực không chỉ là kinh tế mà phải là sự phát triển toàn diện của toàn thể con người và mọi người: nghĩa là phải thúc đẩy sự phát triển của mọi người và của toàn thể nhân loại.”[28] Từ đó nảy sinh một lời mời gọi mạnh mẽ hướng đến tình huynh đệ, được nâng đỡ bởi việc không ngừng đối thoại với các nền văn hóa, các tôn giáo và các lương tâm, nhằm hướng tới một sự phát triển dựa trên tình liên đới, rộng mở trước chiều kích siêu việt và hướng đến tình huynh đệ phổ quát.[29] Với tầm nhìn đó, Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã khơi lên một động lực có tính quyết định cho đối thoại liên tôn, bằng cách đưa đối thoại vào ngay trong cơ cấu của Giáo triều Rôma.
17. Theo đó, ngay từ năm 1964, Ngài đã thiết lập Ban Thư ký về những người ngoài Kitô giáo, ngày nay được gọi là Bộ Đối thoại Liên tôn.[30]Được thành lập ngay trong thời gian Công đồng, trước cả khi Tuyên ngôn Nostra aetate và Thông điệp Ecclesiam Suam được ban hành, cơ quan này được trao nhiệm vụ hướng dẫn, hỗ trợ và điều phối các mối tương quan của Hội thánh với những tín đồ thuộc các tôn giáo khác. Cho đến ngày nay, cơ quan này vẫn kiên trì dấn thân cổ võ “một cuộc chân thành tìm kiếm Thiên Chúa nơi mọi người.”[31]
18. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặc biệt nhấn mạnh rằng các tôn giáo ngoài Kitô giáo không còn phải được nhìn nhận như những đối thủ, nhưng như những người bạn đồng hành trên hành trình, cùng hướng về sự hiệp nhất “trong một tình bằng hữu đã được khởi sự và vẫn còn được mời gọi đạt tới sự viên mãn.”[32] Trong cùng tinh thần ấy, một thập niên sau, hai ủy ban chuyên trách đã được thành lập: một ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Do Thái giáo và một ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Islam.[33] Các ủy ban này được thiết lập nhằm đào sâu cuộc gặp gỡ với Do Thái giáo và Islam, đồng thời củng cố sự cộng tác, kể cả với các Giáo hội Kitô giáo và các cộng đoàn Giáo hội.[34] Theo ước nguyện của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, đối thoại đã bén rễ vững chắc không chỉ trong các cơ cấu của Giáo hội, nhưng còn trong chính con tim truyền giáo của Giáo hội. Đối thoại đã trở thành một yếu tố rất quan trọng của đời sống Kitô hữu: một phong cách đích thực của chứng tá Tin mừng, hòa hợp với một thế giới ngày càng được ghi dấu bởi sự đa dạng về niềm tin và các nền văn hóa.
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II
19. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa viễn tượng của Công đồng về đối thoại liên tôn lên một vị trí nổi bật trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Những nỗ lực của ngài nhằm hiện thực hóa các nguyên tắc của Nostra aetate mang ý nghĩa quyết định, đặc biệt qua việc tổ chức cuộc gặp gỡ lịch sử tại Assisi ngày 27 tháng 10 năm 1986.
Lần đầu tiên, các vị lãnh đạo tôn giáo đến từ khắp nơi trên thế giới cùng hạnh ngộ, mỗi người tuyên xưng đức tin của mình, để cầu nguyện cho hòa bình. Biến cố mang đậm tính biểu tượng này đã trở thành một lời kêu gọi rõ ràng và mạnh mẽ: không còn nhìn nhận các tôn giáo như những nguồn gây chia rẽ, nhưng như những tác nhân thiết yếu trong việc kiến tạo một nền hòa bình lâu bền, được xây dựng trên sự quý trọng lẫn nhau và sự hợp tác huynh đệ.[35]
Kết thúc Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình ấy, trước sự hiện diện của các đại diện thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, Đức Giáo hoàng tuyên bố: “Có lẽ hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử, mối liên hệ nội tại giữa một thái độ tôn giáo đích thực và thiện ích lớn lao của hòa bình đã trở nên hiển nhiên đối với tất cả mọi người […] Nhân loại đã bước vào một thời đại của tình liên đới ngày càng gia tăng và của khát vọng công bằng xã hội.”[36]
20. Liên quan đến cuộc đối thoại với Do Thái giáo, khi Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II viếng thăm hội đường Do Thái giáo tại Rôma ngày 13 tháng 4 năm 1986, ngài đã khẳng định trước các vị đối thoại Do Thái giáo rằng: “Do Thái giáo không phải là một thực tại ‘ngoại tại’ đối với chúng ta, nhưng theo một nghĩa nào đó, lại là một thực tại ‘nội tại’ đối với chính tôn giáo của chúng ta. Vì thế, với Do Thái giáo, chúng ta có một mối tương quan mà chúng ta không có với bất kỳ tôn giáo nào khác. Anh chị em là những người anh em thân yêu của chúng ta, và theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng anh chị em là những người anh cả của chúng ta.”[37]Bởi Đức Giêsu là người Do Thái, Giáo hội và Do Thái giáo có một mối tương quan độc đáo, một mối tương quan không hiện hữu với bất kỳ tôn giáo nào khác.
21. Hơn nữa, qua việc cổ võ điều mà về sau được gọi là “tinh thần Assisi”,[38] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cùng với Thánh Giáo hoàng Phaolô VI ý thức sâu sắc về sự cần thiết phải làm sáng tỏ một số khía cạnh trong mối tương quan giữa đối thoại và việc rao giảng Tin mừng.
Triều đại Giáo hoàng của ngài được ghi dấu bởi việc ban hành một số văn kiện nền tảng, chẳng hạn như tài liệu Đối thoại và Sứ mạng (Dialogue and Mission, 1984) của Ban Thư ký về những người ngoài Kitô giáo,[39] và Thông điệp Redemptoris Missio (1990), trong đó tái khẳng định giá trị trường tồn của sứ mạng truyền giáo mà Giáo hội đã lãnh nhận. Tiếp theo đó là tài liệu Đối thoại và Rao Giảng (Dialogue and Proclamation, 1991), được soạn thảo chung bởi Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn và Bộ Rao Giảng Tin mừng cho các Dân tộc.[40]
22. Trong sự tiếp nối đường hướng của Công đồng Vaticanô II, các văn kiện này trình bày hai đòi hỏi không thể tách rời, mà tầm quan trọng của chúng cho đến nay vẫn không hề suy giảm. Đối với những ai có thể bị cám dỗ chỉ nhấn mạnh đến bổn phận loan báo Đức Kitô, các văn kiện nhắc lại rằng Nostra aetate cũng khẳng định sự cần thiết của việc đối thoại với các truyền thống tôn giáo khác, bởi vì cuộc đối thoại ấy ngày nay “là một phần trong sứ mạng rao giảng Tin mừng của Giáo hội Công giáo.”[41]
Ngược lại, đối với những ai có khuynh hướng tương đối hóa căn tính tôn giáo của chính mình, cũng chính Tuyên ngôn này nhắc lại sự cần thiết phải trung thành với Đức Giêsu Kitô, Đấng là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).[42] Vì thế, đối thoại đòi hỏi phải có một ý thức rõ ràng về căn tính tôn giáo và văn hóa của chính mình, đồng thời phải có một sự cởi mở chân thành đối với tha nhân và sự khác biệt. Đây là điều kiện thiết yếu để cùng chung sống trong các xã hội đa nguyên. Đối thoại phải được thực hiện cách minh bạch, không hàm hồ, đồng thời tránh mọi hình thức tương đối hóa và đồng hóa tôn giáo. Điều đó đòi hỏi phải khẳng định cách trọn vẹn nhất về căn tính của mình, vừa dấn thân cách trọn vẹn nhất vào con đường đối thoại.
23. Một trong những mối quan tâm hàng đầu trong triều đại Giáo hoàng của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II chắc chắn là việc cổ võ một “cuộc đối thoại đích thực giữa các nền văn hóa”[43] trong việc phục vụ hòa bình thế giới, đặc biệt trước sự gia tăng ngày càng nhiều những hành vi bạo lực được thực hiện nhân danh Thiên Chúa. Vào buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, Đức Thánh cha đã mạnh mẽ tái khẳng định rằng các tín hữu có trách nhiệm chứng minh rằng các tôn giáo không phải là một trở ngại cho hòa bình, nhưng trái lại, là một trong những yếu tố thiết yếu của hòa bình. Mọi sự lợi dụng tôn giáo cho những mục đích bạo lực đều là một sự xuyên tạc nghiêm trọng bản chất đích thực của tôn giáo. Tôn giáo không bao giờ được phép trở thành cái cớ cho xung đột: “Tôn giáo và hòa bình đi đôi với nhau: tiến hành chiến tranh nhân danh tôn giáo là một sự mâu thuẫn trắng trợn.”[44]Vì thế, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đưa ra một lời kêu gọi rõ ràng đối với các vị lãnh đạo tôn giáo: họ có trách nhiệm làm chứng, bằng chính hành động và sự dấn thân của mình, rằng chính đức tin của họ thúc đẩy họ dấn thân hoạt động cho hòa bình.
Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI
24. Cũng trong tinh thần của Nostra aetate, vào năm 2006, nhân dịp kỷ niệm hai mươi năm biến cố Assisi, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã tái khẳng định rằng: “chúng ta không thể thực sự kêu cầu Thiên Chúa, là Cha của mọi người, nếu chúng ta từ chối đối xử cách huynh đệ với bất kỳ một con người nào, bởi mỗi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa”,[45] bởi vì niềm tin vào Thiên Chúa chỉ có thể khuyến khích những mối tương quan của tình huynh đệ phổ quát giữa tất cả mọi người.[46]
Sự kiên trì trong đối thoại liên tôn nhằm chứng tỏ rằng chủ nghĩa cực đoan tôn giáo là một sự xuyên tạc các tôn giáo, đi ngược lại với ơn gọi sâu xa nhất của chúng. Trong một bài diễn văn nổi tiếng, khi trích dẫn lời của một vị hoàng đế Byzantine, ngài khẳng định rằng: “truyền bá đức tin bằng bạo lực là điều phi lý. Bạo lực không tương hợp với bản tính Thiên Chúa cũng như với bản tính linh hồn.”[47]
25. Gắn kết chặt chẽ việc tìm kiếm hòa bình với những đòi hỏi của lý trí và sự thật, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhất quán khẳng định rằng không một tôn giáo hay nền văn hóa nào có thể chính đáng biện minh cho chủ nghĩa cuồng tín hoặc việc sử dụng bạo lực. Vì lý do đó, các tín hữu phải tiếp tục gặp gỡ nhau và cùng chia sẻ trách nhiệm phục vụ sự thật, và do đó, phục vụ nhân loại. Đặc biệt, “đối thoại liên tôn và liên văn hóa giữa Kitô giáo và Islam không thể bị xem như một điều tùy chọn hay thêm vào. Trái lại, đó là một nhu cầu thiết yếu cho sự sống còn, mà tương lai của chúng ta phần lớn tùy thuộc vào đó.”[48]
26. Hơn nữa, đối thoại cũng phải được thực hiện với các nền văn hóa, các ngành khoa học và các thể chế chính trị, nhằm đạt tới một sự hiểu biết sâu sắc hơn về con người trong tất cả tính phức tạp của mình. Cuộc đối thoại được “mở rộng” này hướng tới sự phát triển toàn diện của con người và sự hài hòa của xã hội. Bởi trên thực tế, mối nguy đích thực không nằm nhiều ở sự xung đột giữa các khối tôn giáo, cho bằng ở sự xung đột giữa những nền văn hóa không có khả năng hiểu nhau và đối thoại với nhau.
Đức Giáo hoàng Phanxicô
27. Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục triển khai giáo huấn của Nostra aetate, theo đường hướng giáo huấn của các vị tiền nhiệm, khi khẳng định rằng: “ba lĩnh vực căn bản, nếu được liên kết đúng đắn với nhau, có thể góp phần vào cuộc đối thoại này: Trách nhiệm tôn trọng căn tính của chính mình và của người khác; Can đảm chấp nhận những khác biệt; và Có ý hướng chân thành, cởi mở và sẵn sàng lắng nghe.”[49]
Đối thoại liên tôn phải được thực hiện với thái độ cởi mở, chân thành, tôn trọng sự thật và tình yêu thương (đức ái),[50] “bất chấp những trở ngại và khó khăn khác nhau.” Ngài cũng tái khẳng định rằng cuộc đối thoại như thế là “một điều kiện cần thiết cho hòa bình trên thế giới, và vì thế, là một bổn phận đối với các Kitô hữu cũng như các cộng đồng tôn giáo khác.”[51]
28. Liên quan đến những đặc điểm riêng của cuộc đối thoại với Do Thái giáo, ngay từ đầu triều đại Giáo hoàng của mình, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đề cập đến nền tảng thần học của cuộc đối thoại Do Thái giáo và Kitô giáo. Dựa trên Nostra aetate, ngài khẳng định: “Nền tảng này mang tính thần học, chứ không đơn thuần chỉ là biểu hiện của ước muốn tôn trọng và quý trọng lẫn nhau. Vì thế, điều quan trọng là cuộc đối thoại của chúng ta luôn được ghi dấu sâu xa bởi ý thức về mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa.”[52]
29. Đặc biệt quan trọng là ba đoạn dành riêng cho mối tương quan với Do Thái giáo trong Tông huấn Evangelii Gaudium,[53] một văn kiện nền tảng để diễn giải triều đại Giáo hoàng của ngài. Trong số những chủ đề mà Đức Thánh cha muốn trình bày cách rõ nét khi xác định cách Giáo hội hiểu về mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo và Do Thái giáo, có thể kể đến: cùng với dân Do Thái đón nhận Lời đã được mặc khải, để “giúp nhau đào sâu những kho tàng của Lời Thiên Chúa”;[54] đối thoại và tình bằng hữu như một phần trong đời sống của các môn đệ Đức Giêsu; nỗi đau trước những cuộc bách hại khủng khiếp mà dân Do Thái đã phải chịu, đặc biệt là những cuộc bách hại có sự tham gia của các Kitô hữu; và việc cùng chia sẻ nhiều xác tín luân lý, đồng thời cùng quan tâm đến công lý và sự phát triển của các dân tộc.
30. Dưới triều đại của Đức Giáo hoàng Phanxicô, đối thoại liên tôn đã bước vào một giai đoạn mới, được thấm nhuần sâu sắc bởi viễn tượng về “tình huynh đệ nhân loại”,[55] được hiểu theo tinh thần tình huynh đệ nơi Thánh Phanxicô Assisi. Như Đức Thánh cha khẳng định trong Thông điệp Fratelli Tutti: “Đức tin mang lại động lực mạnh mẽ để con người tôn trọng tha nhân nhờ nhận ra tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mỗi người.”[56]Tiếp nối nguyên tắc “hiệp nhất thắng vượt xung đột”,[57] Đức Thánh cha đã khẳng định: “Văn hóa đối thoại là con đường; sự cộng tác hỗ tương là quy tắc ứng xử; và sự hiểu biết lẫn nhau là phương pháp và tiêu chuẩn.”[58] Đứng trước cám dỗ phân mảnh thế giới thành những vũ trụ văn hóa và tôn giáo khép kín, Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi mọi người phá bỏ những “bức tường ngăn cách”[59] và can đảm chọn lựa con đường gặp gỡ. Như ngài đã nói: “Không phải cô lập, nhưng là gần gũi; không phải xung đột giữa các nền văn hóa, nhưng là văn hóa gặp gỡ.”[60]
31. Các cá nhân và các dân tộc chỉ có thể thực sự sinh những hoa trái tốt đẹp nếu họ sẵn sàng mở lòng với tha nhân bằng tinh thần sáng tạo và quảng đại. Trong viễn tượng ấy, Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng nhắc nhở rằng không thể hiểu biết đầy đủ về chính mình, cũng như không thể nhận thức cách sâu xa thực tại của đất nước, Giáo hội hay cộng đoàn của mình, nếu không bước vào một tương quan tôn trọng với những người khác biệt. Vì thế, sự khác biệt của tha nhân trở thành một nguồn làm phong phú lẫn nhau, miễn là các tôn giáo, truyền thống tâm linh và nền văn hóa khác không bị nhìn nhận như những mối đe dọa. Trái lại, khi được đón nhận trong sự tôn trọng và cởi mở chân thành, những khác biệt ấy có thể góp phần mở rộng chân trời hiểu biết, đào sâu ý thức về căn tính của chính mình và củng cố những mối dây hiệp thông giữa con người với nhau.
32. Tuy nhiên, điều quan trọng cần ghi nhớ là “đối thoại không phải là một công thức thần kỳ.”[61] Đối thoại không tự nhiên xảy ra, và những ai dấn thân vào đó không được ngây thơ cũng không được nuôi dưỡng những lý tưởng viển vông. Trái lại, họ được mời gọi trở thành những “anh hùng của tương lai.”[62] Từ chối cả sự khép kín trong căn tính lẫn logic của đối đầu và gây hấn, họ chọn bước đi trên một con đường ở giữa, tuy đòi hỏi nhiều nỗ lực nhưng lại phong phú hoa trái: con đường kiên trì xây dựng tình huynh đệ nhân loại.[63] Một nguyên tắc nền tảng phải luôn hướng dẫn mọi hành động của họ, đó là ý thức rằng việc tin vào Thiên Chúa và thờ phượng Người tự nó chưa bảo đảm rằng con người đang sống phù hợp với thánh ý của Người.[64] Từ đó cho thấy tầm quan trọng của một tiêu chuẩn phân định mang tính phổ quát, có thể được tìm thấy trong các bản văn thánh của nhiều tôn giáo khác nhau: liệu con người có đón nhận hay từ chối người bị thương đang nằm bên vệ đường hay không.
Sự quan tâm cụ thể đối với những người dễ bị tổn thương nhất chính là thước đo căn bản để đánh giá tính xác thực và sự chính trực của mọi dự án, dù thuộc lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, học thuật, tôn giáo hay văn hóa. Người nghèo, trong tất cả những hình thức mong manh và dễ bị tổn thương của họ, chính là chiếc la bàn giúp chúng ta nhận biết liệu mình có đang đi đúng hướng hay không.[65]
Đức Giáo hoàng Lêô XIV
33. Trong bài diễn văn đầu tiên dành cho Ngoại giao đoàn cạnh Tòa thánh vào năm 2025, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nhắc đến ba từ khóa cần đồng hành với mọi hình thức đối thoại: hòa bình, công lý và chân lý. [66]Cũng trong năm này, tiếp bước các vị tiền nhiệm, Đức Thánh cha đã kỷ niệm sáu mươi năm Tuyên ngôn Nostra aetate và khẳng định rằng chính qua văn kiện Công đồng này, “một hạt giống hy vọng cho cuộc đối thoại liên tôn đã được gieo trồng.”[67] Đức Giáo hoàng Lêô XIV cũng nhắc nhớ rằng đã có những chứng nhân tử đạo của đối thoại, những người đã hiến mạng sống mình trong cuộc đấu tranh chống lại bạo lực và hận thù.[68] Hơn nữa, ngài nhấn mạnh rằng: “Chúng ta có thể hướng dẫn các tín hữu sống tinh thần ngôn sứ của thời đại hôm nay bằng những hành động thiết thực, những tiếng nói lên án bạo lực và bất công, chữa lành những chia rẽ, và loan báo hòa bình cho tất cả anh chị em mình.”[69] Trong buổi Tiếp kiến chung ngày 29 tháng 10 năm 2025, dành riêng cho Nostra aetate, Đức Thánh cha tái khẳng định: “Văn kiện sáng ngời này dạy chúng ta gặp gỡ những tín đồ thuộc các tôn giáo khác không phải như những người xa lạ, nhưng như những người bạn đồng hành trên con đường tìm kiếm chân lý; biết tôn trọng những khác biệt, đồng thời khẳng định nhân tính chung của chúng ta; và biết nhận ra, trong mọi cuộc chân thành tìm kiếm tôn giáo, một phản chiếu của Mầu nhiệm thần linh duy nhất bao trùm toàn thể công trình tạo dựng.”[70]
34. Trong bài diễn văn đầu tiên dành cho các đại diện của các Giáo hội khác, các cộng đoàn Kitô giáo, cũng như các đại diện của các tôn giáo khác, trong ngày 19 tháng 5 năm 2025, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã tóm kết những điểm cốt yếu của cuộc đối thoại Do Thái giáo và Kitô giáo, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của đối thoại thần học: “Vì những cội nguồn Do Thái của Kitô giáo, tất cả các Kitô hữu đều có một mối tương quan đặc biệt với Do Thái giáo. Tuyên ngôn Công đồng Nostra aetate (số 4) nhấn mạnh sự phong phú lớn lao của di sản thiêng liêng mà các Kitô hữu và người Do Thái cùng chia sẻ, đồng thời khuyến khích sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau. Cuộc đối thoại thần học giữa các Kitô hữu và Do Thái giáo vẫn luôn có tầm quan trọng và là điều tôi đặc biệt quan tâm. Ngay cả trong những thời điểm khó khăn này, được ghi dấu bởi các cuộc xung đột và những hiểu lầm, chúng ta vẫn cần tiếp tục duy trì động lực của cuộc đối thoại quý báu này.”[71] Các Kitô hữu và người Do Thái, vì không thể thiếu nhau, được mời gọi tiếp tục cùng nhau bước đi trên con đường này cho đến tận cùng thời gian trên trần thế. Cùng với nhau, họ được mời gọi hướng tới ngày “chỉ một mình Thiên Chúa biết”, khi mọi dân tộc sẽ cùng một tiếng nói hướng về Chúa và “kề vai sát cánh phụng sự Người” (Xp 3,9).[72]
35. Chủ đề đối thoại với các tôn giáo khác nhau, cần được cổ võ và vun đắp, cũng được tái khẳng định cách rõ ràng trong Tuyên bố Chung với Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I ngày 29 tháng 11 năm 2025: “Chúng ta bác bỏ mọi việc sử dụng tôn giáo và danh Thiên Chúa để biện minh cho bạo lực. Chúng ta tin rằng đối thoại liên tôn đích thực, thay vì trở thành nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa hỗn hợp tôn giáo và sự hỗn loạn, lại là điều thiết yếu cho việc chung sống giữa các dân tộc thuộc những truyền thống và nền văn hóa khác nhau. Ý thức về kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nostra aetate, chúng tôi khuyến khích tất cả những người nam và người nữ thiện chí cùng nhau nỗ lực xây dựng một thế giới công bằng và liên đới hơn, đồng thời chăm sóc công trình tạo dựng mà Thiên Chúa đã trao phó cho chúng ta. Chỉ bằng cách ấy, gia đình nhân loại mới có thể vượt thắng sự dửng dưng, khát vọng thống trị, lòng tham lợi nhuận và thái độ bài ngoại.”[73] Dưới ánh sáng này, cuộc đối thoại được triển khai theo sau Nostra aetate không chỉ là một thao tác lý thuyết, nhưng là một cam kết chung về mặt luân lý và thiêng liêng, hướng đến hòa bình, công lý và việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta.
36. Đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay, đang bị in dấu bởi biết bao cuộc chiến tranh mỗi ngày gây ra nhiều cái chết và những hoàn cảnh đau khổ vô cùng lớn lao và bất công, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã tìm cách tái khẳng định vai trò mang tính quyết định của đối thoại liên tôn trong việc khước từ lô gích bạo lực: “Những ai sử dụng danh Thiên Chúa để hợp thức hóa chủ nghĩa khủng bố, bạo lực hay chiến tranh đều phản bội bản tính đích thực của Người, bởi chiến đấu nhân danh tôn giáo chính là tấn công vào chính tôn giáo. ‘Tinh thần Assisi’, được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khơi lên và được Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục phát huy chẳng hạn, qua cuộc đối thoại của ngài với Đại Imam của al-Azhar cho thấy các tín hữu có thể kín múc từ những nguồn mạch chân chính nhất của các truyền thống tâm linh riêng của mình, nơi không có chỗ cho ‘lòng hận thù được thánh hóa’.”[74]
III. Những hoa trái và thách đố của Nostra aetate trong bối cảnh hiện nay
Những Kết quả hữu hình và thầm lặng
37. Sáu mươi năm sau khi được ban hành, những hoa trái mà Nostra aetate đã mang lại cho mối tương quan với Do Thái giáo, cũng như cho cuộc đối thoại với Islam và các tôn giáo khác, đã trở nên rõ ràng. Liên quan đến các tôn giáo này, chỉ cần nêu một vài ví dụ, trong thời gian qua, Giáo hội Công giáo đã thực hiện đối thoại và cộng tác trong nhiều lãnh vực và ở những cấp độ khác nhau với các tín đồ Ấn giáo, Phật giáo, Kỳ-na giáo, đạo Sikh, Thần đạo, Đạo giáo, Nho giáo và Bái Hỏa giáo, cũng như với các tôn giáo truyền thống, đặc biệt là các tôn giáo tại châu Phi.
38. Một trong những tác động quan trọng nhất của Nostra aetate chắc chắn là sự chuyển biến trong cách nhìn, kéo theo những hệ quả đáng kể. Những tình bằng hữu bền vững đã được hình thành giữa các vị lãnh đạo tôn giáo; các dự án chung trong lĩnh vực giáo dục và xã hội đã được khởi xướng; và những tuyên bố chung đã được đưa ra để đáp lại các thảm họa nhân đạo, những cuộc chiến tranh hoặc các cuộc khủng hoảng môi trường.[75] Tại những nơi trước đây từng tồn tại sự khước từ, thiếu lòng tin hoặc thiếu hiểu biết, những cử chỉ cụ thể này đã góp phần xây dựng một nền văn hóa đối thoại và một “văn hóa gặp gỡ”[76] Tạp chí Pro Dialogo, do Bộ Đối thoại Liên tôn xuất bản, thường xuyên giới thiệu nhiều sáng kiến như thế, quy tụ và phổ biến những hoa trái phong phú của các cuộc gặp gỡ này trên khắp thế giới. Tương tự, Bộ Đối thoại Liên tôn gửi những thông điệp thiện chí đến các bạn hữu thuộc những truyền thống tôn giáo khác nhân dịp các đại lễ của họ, nhằm làm sống động và củng cố hơn nữa những mối dây quý trọng và cộng tác lẫn nhau. Ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Do Thái giáo cũng thực hiện tương tự.
39. Nhờ sự suy tư thần học và sự phát triển mục vụ của đối thoại liên tôn, phù hợp với tầm nhìn ban đầu của Đức Giáo hoàng Thánh Phaolô VI, đối thoại [77] ngày nay được thực hiện trong nhiều lãnh vực khác nhau, như được trình bày trong tài liệu Đối thoại và Rao Giảng (Dialogue and Proclamation, 1991): đối thoại đời sống, bao gồm những thực tại thường nhật của việc chung sống giữa những người thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, dù tại các làng quê hay trong các thành phố lớn nhỏ; đối thoại hành động, được thể hiện qua những sáng kiến chung mà các tín đồ thuộc những tôn giáo khác nhau có thể cùng nhau thực hiện; đối thoại thần học, do các chuyên viên thực hiện, bao gồm việc trao đổi kiến thức tôn giáo, chủ yếu trên bình diện giáo lý; và sau cùng, đối thoại kinh nghiệm tôn giáo, được thực hiện cách đặc biệt bởi những tu sĩ nam nữ tham gia Đối thoại Liên tôn trong các dòng tu.[78]
40. Trong số những hoa trái của cuộc đối thoại được khởi xướng bởi Nostra aetate có Mạng lưới Phụ nữ Đối thoại Liên tôn, do Bộ Đối thoại Liên tôn cổ võ nhằm mở rộng sự tham gia của phụ nữ; cũng như sự cộng tác kéo dài nhiều thập niên giữa Bộ và Ủy ban Đối thoại Liên tôn của Hội đồng Đại kết các Giáo hội Thế giới. Sự cộng tác này đã dẫn đến việc hình thành những văn kiện quan trọng, chẳng hạn như Chứng tá Kitô giáo trong một Thế giới Đa tôn giáo: Những Khuyến nghị về Cách thức Ứng xử (Christian Witness in a Multireligious World: Recommendations for Conduct, 2011).
41. Những hoa trái này thường được thể hiện cách âm thầm và kín đáo, bén rễ trong đời sống thường nhật. Ngày nay, các linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân đang sống giữa những khu dân cư đa tôn giáo, nơi chính việc chung sống trong hòa bình và hiện diện cho nhau như những người láng giềng đã là một hình thức chứng tá. Các gia đình liên tôn, các nhóm giới trẻ và các cộng đồng địa phương không ngừng tìm kiếm những cách thức mới để cùng chung sống. Tất cả những thành quả ấy, đôi khi vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi, âm thầm và khó nhận thấy nhưng đầy sức sinh hoa kết quả, đều thể hiện trực giác nền tảng của Nostra aetate: sống giữa thế giới như những chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa, trong đối thoại với tất cả mọi người.
42. Phù hợp với trực giác của Nostra aetate và giáo huấn của Huấn quyền gần đây, ước mong rằng, qua một sự phân định được đổi mới, các cuộc trao đổi và những hình thức cộng tác cũng sẽ được cổ võ với các thành viên của những “phong trào tôn giáo mới” và các đại diện của những kinh nghiệm tôn giáo mới. Những cuộc gặp gỡ huynh đệ này vốn không thể được hiểu là đối thoại đại kết hay đối thoại liên tôn theo đúng nghĩa có thể mở ra những cơ hội cụ thể để cùng nhau cổ võ các giá trị được chia sẻ và theo đuổi công ích, khi được đặt nền tảng trên sự minh định về căn tính của mỗi bên và lòng tôn trọng lẫn nhau.
Những cuộc gặp gỡ ấy cũng có thể góp phần giúp hiểu biết cách chăm chú hơn những khát vọng tâm linh của con người đương đại, qua đó mở rộng những cơ hội làm chứng, hiểu biết lẫn nhau và cộng tác trong việc phục vụ phẩm giá con người, hòa bình xã hội và việc chăm sóc công trình tạo dựng
43. Sau cùng, cũng cần ghi nhận sự gia tăng trong nhận thức mang tính phê phán đối với những biểu hiện của chứng bài Islam (Islamophobia), vốn chưa phân biệt đầy đủ giữa một bên là những trường hợp chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và bạo lực, với một bên là đời sống hòa bình của những tín đồ Islam khác, những người hội nhập vào và đóng góp cho các quốc gia đón nhận họ.
Chúng ta cần bày tỏ lòng biết ơn đối với những cộng đoàn Kitô hữu đã trưởng thành trong tinh thần đón tiếp, cũng như trong sự hiểu biết và lòng quý trọng ngày càng sâu sắc hơn đối với các tín đồ Islam. Như Nostra aetate nhắc nhở chúng ta, họ “tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, hằng sống và tự hữu; Đấng đầy lòng thương xót và toàn năng, Đấng Tạo Hóa trời đất, Đấng đã ngỏ lời với con người; họ cố gắng hết lòng tuân phục cả những mệnh lệnh khôn dò của Người, cũng như Abraham, người mà đức tin Islam vui mừng liên kết với mình, đã vâng phục Thiên Chúa. […] Sau cùng, họ coi trọng đời sống luân lý và thờ phượng Thiên Chúa, đặc biệt qua việc cầu nguyện, bố thí và ăn chay.”[79]
IV. Những trở ngại và Ngộ Nhận dai dẳng
44. Mặc dù đã có những tiến triển ấy, những khó khăn xung quanh việc đối thoại vẫn còn đó. Một số vòng luẩn quẩn vẫn tiếp tục đặt vấn đề về tính thích đáng của đối thoại, vì lo ngại rằng đối thoại có thể dẫn đến chủ nghĩa tương đối về giáo lý hoặc làm suy giảm căn tính tôn giáo. Ngay cả sau khi tài liệu Đối thoại và Rao Giảng (Dialogue and Proclamation, 1991) được ban hành, vẫn còn tồn tại những hiểu lầm liên quan đến chính bản chất của đối thoại. Một số người vẫn đặt câu hỏi liệu đối thoại là một vấn đề mục vụ, một hành vi bác ái, một cuộc trao đổi thần học, hay là một đòi hỏi về sự dấn thân chính trị nhằm phục vụ công ích.
45. Bên ngoài những ranh giới của Giáo hội, những hiểu lầm cũng không kém phần đáng kể. Tại một số khu vực, các mối tương quan giữa những tín đồ thuộc các tôn giáo khác nhau trong lịch sử đã từng bị ghi dấu bởi xung đột, và ký ức về những vết thương trong quá khứ khiến việc xây dựng lòng tin lẫn nhau trở nên khó khăn, bất chấp lời kêu gọi của Tuyên ngôn Nostra aetate là “quên đi quá khứ và chân thành nỗ lực để đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau” [80] đặc biệt giữa các Kitô hữu và người Islam.
Về vấn đề này, có thể nhắc lại những lời của Đức Giáo hoàng Phanxicô: “Để duy trì cuộc đối thoại với Islam, việc đào tạo thích hợp là điều thiết yếu đối với tất cả những ai tham gia, không chỉ để họ có thể được bén rễ cách vững vàng và đầy niềm vui trong căn tính của chính mình, mà còn để họ có thể nhìn nhận những giá trị của người khác, trân trọng những mối quan tâm nằm phía sau những đòi hỏi của họ, và làm sáng tỏ những niềm tin chung. Chúng ta, những Kitô hữu, cần đón nhận những anh chị em Islam di dân đến các quốc gia của chúng ta bằng tình thương và sự tôn trọng, cũng như chúng ta mong ước và yêu cầu mình được đón nhận và tôn trọng tại các quốc gia có truyền thống Islam. Tôi yêu cầu, và khiêm tốn khẩn khoản các quốc gia ấy dành cho các Kitô hữu quyền tự do thờ phượng và thực hành đức tin của mình, trong ánh sáng của sự tự do mà các tín đồ Islam được hưởng tại các quốc gia phương Tây!”[81] Ở những nơi khác, sự gia tăng của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, sự dai dẳng của thành kiến, việc các mối liên hệ tôn giáo bị thao túng vì mục đích chính trị, và những hành vi bạo lực được thực hiện nhân danh Thiên Chúa đang làm suy yếu chính những nền tảng của đối thoại. Trong các xã hội tục hóa, diễn ngôn tôn giáo đôi khi bị gạt ra bên lề hoặc bị lợi dụng, bị giản lược thành yếu tố dân gian hay một quan điểm chủ quan, hoặc hoàn toàn bị che khuất.
46. Hành trình này vẫn còn nhiều đòi hỏi cần đến sự khiêm nhường, lòng can đảm và khả năng phân định. Đối với các Kitô hữu, đòi hỏi này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi người tín hữu đích thực không bị thúc đẩy bởi sự kiêu ngạo, nhưng đúng hơn, “chân lý dẫn đến sự khiêm nhường, bởi các tín hữu biết rằng không phải chính chúng ta sở hữu chân lý, nhưng chính chân lý bao bọc và chiếm hữu chúng ta. Sự vững chắc của đức tin không làm cho chúng ta trở nên cứng nhắc; trái lại, thúc đẩy chúng ta lên đường; giúp chúng ta làm chứng và đối thoại với tất cả mọi người.”[82] Cuộc đối thoại này thường đòi hỏi một “lòng kiên nhẫn không bao giờ cạn”[83] và không thể bị giản lược thành một sự đồng thuận chung chung, đơn giản. Bén rễ trong sứ mạng loan báo Tin mừng của Giáo hội mà đối thoại là một chiều kích thiết yếu, cuộc đối thoại đòi hỏi một sự dấn thân chân thành, một sự hiểu biết sâu sắc về người khác, và việc nhìn nhận tự do lương tâm như nền tảng của mọi mối tương quan đích thực.[84] Do đó, vấn đề không phải là từ bỏ chân lý, nhưng là loan báo chân lý theo cách thức phù hợp với Tin mừng: bằng lòng quý trọng, sự lắng nghe và đức ái. Đó là một sự chia sẻ đích thực về điều đang cư ngụ trong lòng mình:
“Có thể nói về Đức Kitô, bằng chứng tá hay bằng lời nói, theo cách thức khiến người khác muốn yêu mến Người, đó là khát vọng lớn nhất của mỗi người truyền giáo các tâm hồn. Động lực của tình yêu này hoàn toàn không liên quan gì đến việc chiêu dụ tín đồ; lời của người đang yêu không làm phiền người khác, không đưa ra những đòi hỏi hay ép buộc, nhưng chỉ dẫn người khác đến chỗ kinh ngạc trước một tình yêu lớn lao như thế. Với sự tôn trọng sâu xa đối với tự do và phẩm giá của họ, người đang yêu chỉ đơn giản chờ đợi họ đặt câu hỏi về tình yêu đã làm cho cuộc đời mình trở nên viên mãn.”[85]
47. Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, cần nhấn mạnh đến những cuộc bách hại mà các Kitô hữu đang phải chịu tại nhiều nơi trên thế giới dưới tay các nhóm tôn giáo cực đoan. Mọi cuộc bách hại vì lý do tôn giáo luôn là một sự vi phạm phẩm giá con người, và vì thế, cấp thiết phải tìm kiếm một đáp trả chung, trong tinh thần của Nostra aetate, nhằm cổ võ sự tôn trọng, đối thoại và chung sống hòa bình giữa mọi người và đối với tất cả mọi người.
Một sư phạm đối thoại cần được đào sâu
48. Trước những thách đố của thời đại hôm nay, Giáo hội được mời gọi đổi mới và đào sâu nền sư phạm về đối thoại. Trước hết, điều này đòi hỏi phải có một chương trình đào tạo toàn diện và thấu đáo trong các chủng viện, các học viện thần học và các chương trình mục vụ. Không còn đủ khi chỉ loan báo tầm quan trọng của đối thoại; giờ đây, đối thoại phải được sống, bằng cách trang bị cho các tín hữu những công cụ cần thiết để họ có thể tham gia vào đối thoại một cách có hiểu biết, có tinh thần phê phán và bình an. Kiến thức về các tôn giáo, lịch sử các mối tương quan liên tôn, việc xây dựng những định hướng cho đối thoại, cũng như việc cổ võ năng lực hiểu biết về tôn giáo đều là những yếu tố góp phần thúc đẩy và duy trì việc gặp gỡ và đối thoại liên tôn. Đồng thời, cũng cần đưa vào chương trình đào tạo Kitô giáo sự hiểu biết về những vấn đề văn hóa và địa chính trị đương đại.
49. Đồng thời, cần dành sự trân trọng lớn hơn cho những sáng kiến cụ thể do các Giáo hội địa phương thực hiện, vốn đang ở tuyến đầu. Chính tại cấp độ địa phương, các Giáo hội này phát triển những hình thức gặp gỡ sáng tạo và can đảm nhất: các ủy ban đối thoại, những dự án chung, các sáng kiến giáo dục hoặc nhân đạo, và những cử hành chung. Bằng cách quy tụ, chia sẻ và kết nối những kinh nghiệm này, Giáo hội hoàn vũ có thể làm phong phú đời sống của mình, đồng thời nhận diện và định hướng những con đường mục vụ mới.
50. Cũng cần đặc biệt quan tâm đến chiều kích thiêng liêng của đối thoại. Mục đích của đối thoại không chỉ là một hoạt động trí thức, nhưng là một cuộc gặp gỡ đích thực, cuộc gặp gỡ với một người khác đang sống niềm tin, trong tinh thần hòa bình, tình bằng hữu và cùng nhau tìm kiếm chân lý và sự thiện.[86] Đối thoại chân thành loại trừ mọi hình thức lợi dụng. Mục đích của đối thoại là sự hiểu biết lẫn nhau và việc cùng nhau khám phá điều đúng đắn và chân thực cho tất cả mọi người. Vì thế, tham gia đối thoại theo tinh thần của Nostra aetate giả thiết một cái nhìn chiêm niệm hướng về “người khác biệt với mình”. “Đến gần, trò chuyện, lắng nghe, nhìn ngắm, tìm hiểu và hiểu nhau, cũng như tìm kiếm những điểm chung: tất cả những điều ấy được tóm kết trong một từ duy nhất là ‘đối thoại’.”[87]
51. Theo nghĩa này, đối thoại liên tôn có thể trở thành một cơ hội để trung thành hơn với tình yêu phổ quát của Thiên Chúa, được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Đối thoại liên tôn biến đổi các cá nhân, các cộng đoàn, và đôi khi cả những cơ cấu của Hội thánh. Vì thế, đối thoại không phải là một vấn đề bên lề, nhưng là một nơi chốn thần học, nơi Chúa Thánh Thần muốn được lắng nghe qua cuộc gặp gỡ với tha nhân.[88]
V. Triển vọng và định hướng cho tương lai của đối thoại liên tôn
52. Tương lai của đối thoại liên tôn đòi hỏi một sự suy tư được đổi mới và đặc biệt là những cam kết rõ ràng. Mặc dù những thập niên sau Công đồng Vaticanô II đã tạo điều kiện để thiết lập những mối tương quan hòa bình hơn giữa các truyền thống tôn giáo khác nhau, những biến chuyển về địa chính trị, văn hóa và sinh thái trong những năm gần đây đang đặt ra những thách đố chưa từng có.
Những căng thẳng liên quan đến căn tính, khuynh hướng khép kín của các cộng đoàn, các ý thức hệ cực đoan, những xung đột mang chiều kích tôn giáo, việc tôn giáo bị thao túng vì các mục đích chính trị, cũng như sự dửng dưng ngày càng gia tăng tại nhiều quốc gia đối với mọi hình thức đời sống tâm linh, đang thúc đẩy chúng ta đổi mới những phương thức thực hiện đối thoại trong một thế giới đang biến đổi nhanh chóng.
53. Vấn đề ở đây không phải là thiết lập một tôn giáo thế giới duy nhất, trong đó mọi niềm tin đều bị san bằng và xóa nhòa. Một khả thể như thế phải bị loại trừ, vì tôn trọng chính mình cũng như tôn trọng người khác. Đúng hơn, vấn đề là xây dựng một xã hội huynh đệ có khả năng đón nhận những khác biệt. Ý hướng này vẫn là trọng tâm của đối thoại liên tôn, cũng như đã từng là trọng tâm của Tuyên ngôn Nostra aetate và của những nỗ lực đã ghi dấu các thập niên kể từ khi Tuyên ngôn được ban hành. Đối thoại không chỉ đơn thuần là trình bày giáo lý của mình hay so sánh các thế giới quan.
Ngày nay, trước những người kích động chia rẽ và khơi lên xung đột, các tín hữu thuộc những truyền thống khác nhau và cách đặc biệt là các vị lãnh đạo của họ trong khi vẫn ý thức về những khác biệt không thể giản lược giữa các bên, được mời gọi cùng nhau tìm kiếm, với sự sáng suốt và niềm hy vọng, những điều kiện cần thiết cho một cuộc chung sống hòa bình.
54. Để đạt được mục tiêu này, cần có một sự thay đổi đích thực trong não trạng: từ bỏ lối tư duy phòng thủ, thù nghịch hay chinh phục, để đón nhận một thái độ cởi mở, thiện chí và can đảm. Những mô hình đơn nhất và khép kín, vốn khuyến khích một cái nhìn đóng kín về thực tại, ngày càng cho thấy sự bất cập của mình và, xét cho cùng, trở thành nguồn gây ra bạo lực và đau khổ cho những người dễ bị tổn thương nhất.
Việc cố thủ trong lập trường của riêng mình, cũng như quan niệm cho rằng chiêu dụ tín đồ là cách thức duy nhất để tương tác với tha nhân, không còn phù hợp trong một thế giới ngày càng giống như một ngôi làng toàn cầu liên kết với nhau và không ngừng biến đổi.
Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc lại điều này vào năm 2019, tại Đại học Chulalongkorn ở Bangkok, trước các vị lãnh đạo tôn giáo Phật giáo, Islam, Ấn giáo, Đạo Sikh và Kitô giáo: “Những ngày mà một lối tư duy khép kín có thể định hình cách tiếp cận thời gian và không gian, đồng thời tỏ ra như một phương thế hữu hiệu để giải quyết các xung đột, đã qua từ lâu. Giờ đây là lúc cần can đảm để hình dung một lối tư duy mới: lấy văn hóa gặp gỡ và đối thoại hỗ tương làm con đường, lấy sự cộng tác chung làm quy tắc ứng xử, và lấy sự hiểu biết lẫn nhau làm phương pháp và tiêu chuẩn. Nhờ đó, chúng ta có thể đề ra một mô hình mới để giải quyết các xung đột, đồng thời góp phần thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc hơn và việc bảo vệ công trình tạo dựng. Về phương diện này, các tôn giáo, cũng như các trường đại học, có rất nhiều điều để đóng góp, mà không cần phải từ bỏ căn tính riêng cũng như những ân huệ đặc thù của mình. Mọi điều chúng ta thực hiện theo hướng này sẽ là một bước tiến quan trọng nhằm bảo đảm cho các thế hệ trẻ quyền được có một tương lai, đồng thời phục vụ cho sự nghiệp công lý và hòa bình.”[89]
55. Trái ngược hoàn toàn với những thái độ cứng nhắc tìm cách giải quyết xung đột bằng sức mạnh, đây là lúc cần cổ võ một nền đạo đức mới của đối thoại: một nền văn hóa của sự phức hợp, tính linh hoạt và tình bằng hữu. Vấn đề không còn là sợ hãi hay giữ khoảng cách với “người có niềm tin khác” với một nền văn minh khác, một cách suy tư khác nhưng là dám bước vào cuộc gặp gỡ. Người từng bị nhìn nhận như một mối đe dọa, một kẻ thù cần phải sợ hãi, chỉ được tôn trọng từ xa, thậm chí cần phải bị tiêu diệt, nay có thể trở thành một đối tác đối thoại, một đồng minh, một người bạn, thậm chí là một “người hành hương tìm kiếm chân lý”[90] cùng với mình chia sẻ một phần hành trình.
Các nền văn minh và các tôn giáo chắc chắn có thể rơi vào tình trạng căng thẳng với nhau, nhưng cũng có thể cộng hưởng với nhau trong một năng động sáng tạo, biết biến sự đa dạng thành tình liên đới. Sự khác biệt của tha nhân không còn phải được trải nghiệm như một trở ngại, nhưng như một thách đố cần được đón nhận.
Trong một thế giới bị giam hãm trong những giới hạn nghẹt thở của tính nội tại, các tín hữu thuộc những tôn giáo khác nhau không muốn từ bỏ việc trình bày cho thế giới chân lý về sự siêu việt và tình yêu của Thiên Chúa dành cho mọi người. Điều này càng đặc biệt quan trọng trong một thời đại mà đôi khi “người ta tỏ thái độ khinh miệt đối với những bản văn phản ánh các xác tín tôn giáo, mà quên rằng những tác phẩm kinh điển của các tôn giáo có thể mang ý nghĩa trong mọi thời đại; chúng vẫn luôn có sức mạnh mở ra những chân trời mới, khơi dậy suy tư, mở rộng tâm trí và con tim.”[91]
56. Vì thế, một mô hình đối thoại phong phú hơn và tế vi hơn không chỉ là điều đáng mong đợi cho tương lai, nhưng đã bắt đầu được định hình trong Giáo hội và trong các mối tương quan của Giáo hội với những truyền thống tôn giáo khác. Mô hình này, với nhiều chiều kích khác nhau, có thể được ví như một khối đa diện: đòi hỏi phải đồng thời quan tâm đến nhiều chiều kích, với sự kiên nhẫn và sáng suốt, cũng như với trí tưởng tượng và óc sáng tạo.[92] Chính nhờ sự tương tác này mà một tương lai chung được xây dựng một tương lai trong đó hòa bình và tình bằng hữu không còn là những lý tưởng không tưởng, nhưng trở thành những hoa trái trưởng thành của cuộc gặp gỡ.
VI. Kết luận
57. Sáu mươi năm sau khi Tuyên ngôn Nostra aetate được ban hành, Giáo hội Công giáo nhìn lại hành trình đã trải qua với lòng biết ơn sâu xa. Trong suốt sáu thập niên, văn kiện ngắn gọn nhưng đầy can đảm này đã làm biến đổi cách sâu xa diện mạo của các mối tương quan liên tôn.
Giáo hội đã chuyển từ một thái độ thường mang tính dè dặt hoặc xa cách sang một lộ trình đầy can đảm bao gồm đối thoại chân thành, gặp gỡ tôn trọng và cộng tác huynh đệ. Di sản này giờ đây đã trở thành một gia sản sống động và thiết yếu, tiếp tục thách đố các tín hữu hôm nay và mời gọi họ dấn thân tiếp tục cuộc phiêu lưu nhân bản và thiêng liêng này, một cuộc phiêu lưu vô cùng quan trọng đối với thời đại chúng ta.
58. Trong một thế giới vừa liên kết sâu rộng với nhau, vừa bị phân mảnh cách sâu sắc, sứ điệp của Nostra aetate vẫn giữ nguyên tính thời sự. Tình huynh đệ giữa các tín hữu thuộc những truyền thống tôn giáo khác nhau không chỉ là một lý tưởng, nhưng còn là một đòi hỏi mang tính luân lý, thiêng liêng và xã hội.
Trước những thách đố của thời đại hôm nay -chủ nghĩa cực đoan tôn giáo, tình trạng di cư trên toàn cầu, sự tục hóa, cũng như những cuộc khủng hoảng về sinh thái và xã hội, các tôn giáo được mời gọi góp phần biến đổi thế giới và xã hội, để những thực tại ấy có thể trở thành những biểu hiện huynh đệ của thánh ý Thiên Chúa. Sự dấn thân này nhất thiết đòi hỏi phải đổi mới việc giáo dục về đối thoại, đặc biệt nơi các thế hệ trẻ, nhằm vượt thắng những sợ hãi và thành kiến, đồng thời vun đắp một nền văn hóa gặp gỡ đích thực.
59. Nhân kỷ niệm sáu mươi năm Tuyên ngôn Nostra aetate, Giáo hội tái khẳng định với niềm xác tín, quyết tâm tiếp tục con đường đầy đòi hỏi này, biết lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hoạt động trong lịch sử nhân loại cũng như giữa những nền văn hóa và truyền thống tôn giáo đa dạng của các dân tộc. Tại đó, theo những cách thức chỉ mình Ngài biết, Thần Khí khơi lên ngọn lửa khôn ngoan và tuôn ban muôn vàn ân huệ.
Giáo hội mời gọi mọi người trở thành “những người xây dựng nhịp cầu, chứ không phải bức tường”[93], những người kiến tạo hòa bình và tình huynh đệ, biết đón nhận tha nhân trong sự độc đáo của họ, nhận ra những giá trị tinh thần nơi họ, và cùng cộng tác để xây dựng một xã hội công bằng và nhân văn hơn.
Như Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã diễn tả: “Chứng tá về tình huynh đệ của chúng ta, mà tôi hy vọng chúng ta có thể thể hiện qua những cử chỉ hữu hiệu, chắc chắn sẽ góp phần xây dựng một thế giới hòa bình hơn, điều mà tất cả những người thiện chí đều ước mong tận đáy lòng.”[94]
60. Ngày nay hơn bao giờ hết, cần kiên quyết tiến bước theo hướng này, với sự nâng đỡ của ân sủng Thiên Chúa và kho tàng tâm linh của các truyền thống tôn giáo. “Cách đây sáu mươi năm, Nostra aetate đã đem lại niềm hy vọng cho thế giới sau Thế chiến thứ hai. Ngày nay, chúng ta được mời gọi khơi dậy niềm hy vọng trong thế giới của chúng ta, một thế giới đang bị tàn phá bởi chiến tranh và môi trường thiên nhiên đang ngày càng suy thoái.”[95] Hành trình hy vọng này vẫn đang rộng mở, và tất cả chúng ta được mời gọi cùng nhau can đảm bước đi trên con đường này.
Đức Giáo hoàng Lêô XIV, trong buổi Tiếp kiến dành cho các vị Bộ trưởng và Tổng Thư ký -ký tên dưới đây-, của Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu và Bộ Đối thoại Liên tôn, ngày 22 tháng 6 năm 2026, đã phê chuẩn Bản Ghi chú này và truyền công bố.
Ban hành tại Rôma, tại trụ sở của Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ Cổ võ Hiệp nhất các Kitô hữu và Bộ Đối thoại Liên tôn, ngày 16 tháng 9 năm 2026, nhằm ngày lễ nhớ Thánh Cornêliô, Giáo hoàng, và Thánh Cyprianô, Giám mục, các Thánh Tử đạo.
| Hồng y Víctor Manuel Fernández Bộ trưởng | Hồng y George Jacob Koovakad Bộ trưởng | Hồng y Kurt Koch Bộ trưởng |
| Đức ông Armando Matteo Thư ký | Đức ông Indunil Janakaratne Kodithuwakku Kankanamalage Thư ký | Tổng Giám mục Flavio Pace Thư ký |
Chuyển ngữ: Ủy ban Đại kết và Đối thoại liên tôn VHĐGMVN
Chuyển ngữ từ: vatican.va
[1] CĐ VATICANÔ II, Tuyên Ngôn Nostra aetate (ngày 28.10.1965), số 2: AAS 58 (1966), tr. 741.
[2] CĐ VATICANÔ II, Tuyên Ngôn Dignitatis Humanae (ngày 7.12.1965), số. 1: AAS 58 (1966), tr. 929-930.
[3] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (ngày 24.11. 2013), số. 253: AAS 105 (2013), tr.1121.
[4] CĐ VATICANÔ II, Tuyên Ngôn Nostra aetate (28.11. 1965), số. 4: AAS 58 (1966), tr. 742.
[5] x. BỘ CỔ VÕ CÁC KITÔ HỮU HIỆP NHẤT – Ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Người Do Thái, Ghi chú về cách trình bày đúng đắn người Do Thái và Do Thái giáo trong việc giảng thuyết và giáo lý trong Giáo hội Công giáo Rôma (24.6.1985), III, 1: EV 9, 1639.
[6] K. BARTH, Giáo lý về Giáo hội, IV/1: The Doctrine of Reconciliation, ed. G.W. Bromiley & T.F. Torrance, trans. G.W. Bromiley, T&T Clark, Edinburgh 1956, tr. 166.
[7] J.-L. TAURAN, “Cinquant’anni di dialogo interreligioso”: Pro Dialogo 151-52 (2016), tr. 71.
[8] x. GIOAN XXIII, Diễn từ khai mạc trọng thể Công đồng Chung Vaticanô II (11.10.1962), số 8,2: AAS 54 (1962), tr. 794.
[9] x. GIOAN XXIII, Thông điệp Pacem in Terris (11.4.1963), số 83: AAS 55 (1963), tr. 299.
[10] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964), số 65: AAS 56 (1964), tr. 639
[11] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964), số 93: AAS 56 (1964), tr. 649.
[12] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964), số 109–112: AAS 56 (1964), tr. 654–657.
[13] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Ecclesiam Suam (6.8.1964), số 81: AAS 56 (1964), tr. 644–645. Như vậy, Đức Thánh cha khẳng định: “đối thoại phải được coi như, có thể nói, một phương thức đặc thù để thực thi sứ mạng tông đồ, và như, có thể nói, một phương tiện để đưa các tâm trí đến với nhau.” Đức Giáo hoàng cũng xác định những đặc tính của cuộc đối thoại: trước hết là sự rõ ràng, rồi đến sự hiền hòa. Ngài cũng khẳng định rằng cuộc đối thoại phải “Cuộc đối thoại không được kiêu ngạo, không châm chọc hay xúc phạm. Uy tín của nó đến từ chiều sâu của sự thật, từ lòng bác ái và gương sáng. Nó hướng đến hòa bình, tránh bạo lực, có tính kiên nhẫn và quảng đại […]. Đối thoại đòi hỏi niềm tin tưởng vào giá trị lời nói của chính mình cũng như sự sẵn sàng đón nhận từ phía người đối thoại. Nó tạo ra mối thân tình và sự hiệp thông giữa các tâm hồn” Tiếp đến là sự tin tưởng; và sau cùng là sự khôn ngoan sư phạm, Cuộc đối thoại cần biết lưu ý đến những đặc điểm tâm lý, hoàn cảnh đạo đức và đời sống của người nghe.
[14] x. PHAOLÔ VI, Bài giảng nhân dịp công bố năm văn kiện của Công đồng Vaticanô II (28.10.1965): AAS 57 (1965), tr. 903.
[15] CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số 5: AAS 58 (1966), tr. 743–744.
[16] CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số 4: AAS 58 (1966), tr. 743.
[17] x. N. HOFMANN, “Nella ‘Giornata dell’ebraismo’: Tradizioni, valori e impegni comuni”: L’Osservatore Romano, 17.1.2023, tr. 5.
[18] BÊNÊĐICTÔ XVI, Diễn từ với các Thành viên của Phái đoàn “Hội nghị các Chủ tịch của các Tổ chức Do Thái lớn của Hoa Kỳ” (12.2.2009): Insegnamenti, V/1 (2009), tr. 235. X. Id., Ánh sáng thế gian: Đức Giáo hoàng, Giáo hội và những dấu chỉ của thời đại; Cuộc đối thoại với Peter Seewald, dịch bởi M. J. Miller – A. J. Walker, San Francisco, 2010, tr. 123.
[19] J. RATZINGER, “L’eredità d’Abramo: dono di Natale”: L’Osservatore Romano, 29.12.2000, tr. 1.
[20] x. Giáo lý của Hội thánh Công giáo, số 121.
[21] x. BỘ CỔ VÕ CÁC KITÔ HỮU HIỆP NHẤT, Người Do Thái và Do Thái giáo trong Giáo hội Công giáo (24.6.1985), I, 7: EV 9, 1623.
[22] x. BỘ CỔ VÕ CÁC KITÔ HỮU HIỆP NHẤT, “Các ân huệ và lời kêu gọi của Thiên Chúa là không thể thu hồi” (Rm 11,29): Suy tư về những vấn đề thần học liên quan đến các mối tương quan Công giáo – Do Thái giáo, nhân kỷ niệm 50 năm Nostra aetate (số 4) (10.12.2015), số 35: EV 31, 2055. Xem thêm BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN, Tuyên ngôn Dominus Iesus (6.8.2000): AAS 92 (2000), tr. 742–765.
[23] PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 249: AAS 105 (2013), tr. 1120.
[24] x. CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số 4: AAS 58 (1966), tr. 743.
[25] x. BỘ TỐI CAO CỦA TÒA THÁNH, Sắc lệnh (25.3.1928): AAS 20 (1928), tr. 103–104.
[26] BÊNÊĐICTÔ XVI, Buổi Tiếp kiến chung (28.1.2009): Insegnamenti, V/1 (2009), tr. 157.
[27] CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số 4: AAS 58 (1966), tr. 743.
[28] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), số 14: AAS 59 (1967), tr. 264.
[29] x. PHAOLÔ VI, Thông điệp Populorum Progressio (26.3.1967), số 42: AAS 59 (1967), tr. 278.
[30] Văn phòng Thư ký về những người ngoài Kitô giáo được Thánh Giáo hoàng Phaolô VI thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1964, qua Tông thư ban hành dưới dạng Motu proprio Progrediente Concilio (x. AAS 56 [1964], tr. 560), với mục đích quan tâm đến “những người không có được tôn giáo Kitô giáo, và những người dường như được Lời Chúa nói đến: ‘Ta còn những con chiên khác không thuộc về ràn này; cả những con chiên ấy, Ta cũng phải đưa về’ (Ga 10,16)”. (ibid.). Việc thành lập cơ quan này trở nên cần thiết “trong thời đại ngày nay, khi ngày càng có nhiều mối tương quan được thiết lập giữa những người thuộc mọi chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo” (ibid.). Năm 1988, Văn phòng Thư ký này mang tên Hội đồng Tòa thánh đặc trách đối thoại liên tôn (x. Đức Gioan Phaolô II, Tông hiến Pastor Bonus [28.6.1988], các điều 159–162: AAS 80 [1988], tr. 902); và sau đó, vào năm 2022, mang tên Bộ Đối thoại Liên tôn (x. Đức Phanxicô, Tông hiến Praedicate Evangelium [19.3.2022], các điều 147–152: AAS 114 [2022], tr. 426–427).
[31] x. PHANXICÔ, Tông hiến Praedicate Evangelium (19.3.2022), điều 149 §1: AAS 114 (2022), tr. 426.
[32] PHAOLÔ VI, Diễn từ khai mạc Đại hội Chung lần thứ III của Thượng Hội đồng Giám mục (27.9.1974): AAS 66 (1974), tr. 561.
[33] Ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Người Do Thái và Ủy ban về Quan hệ Tôn giáo với Người Islam được thành lập cùng một ngày, ngày 22 tháng 10 năm 1974.
[34] x. P. ROSSANO, “Hành trình của đối thoại liên tôn từ Nostra aetate đến ngày nay”, Pro Dialogo 74 (1991), tr. 131–142; S. SCHMIDT, “Đức Hồng y Bea và Đối thoại Liên tôn”, Pro Dialogo 74 (1991), tr. 143–149.
[35] x. GIOAN PHAOLÔ II, Buổi Tiếp kiến chung (22.10.1986), số 5: Insegnamenti, IX/2 (1986), tr. 1147: “Sau khi thường là nguyên nhân gây chia rẽ, [các tôn giáo trên thế giới] giờ đây tất cả đều muốn đóng một vai trò quyết định trong việc xây dựng hòa bình thế giới.”
[36] x. GIOAN PHAOLÔ II, Diễn từ với các Đại diện của các Giáo hội Kitô giáo và các Cộng đoàn Giáo hội, cùng các Đại diện của các Tôn giáo trên thế giới quy tụ tại Assisi (27.10.1986), các số 6, 8: Insegnamenti, IX/2 (1986), tr. 1268, 1269.
[37] x. GIOAN PHAOLÔ II, Diễn từ với Cộng đồng Do Thái giáo Rôma (13.4.1986), số 4: Insegnamenti, IX/1 (1986), tr. 1027.
[38] x. GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 21 (1.1.1988), số 4: AAS 80 (1988), tr. 284–285.
[39] Văn kiện ĐỐI THOẠI VÀ SỨ VỤ là một tài liệu tham chiếu thiết yếu để hiểu tầm nhìn của Giáo hội về đối thoại liên tôn. Văn kiện khẳng định rằng đối thoại là một chiều kích toàn vẹn của sứ mạng rao giảng Tin mừng của Giáo hội, đồng thời làm rõ rằng đối thoại không thay thế việc công khai rao giảng Đức Kitô, nhưng đồng hành với và làm phong phú cho việc rao giảng ấy. Văn kiện phân biệt bốn hình thức đối thoại bổ sung cho nhau (x. ibid., số 42): đối thoại của đời sống, nghĩa là cùng sống với nhau trong sự tôn trọng và tình huynh đệ giữa các tín hữu thuộc những tôn giáo khác nhau; đối thoại của hành động, dựa trên sự cộng tác cụ thể trong việc phục vụ công lý và hòa bình; đối thoại trao đổi thần học, nhằm thúc đẩy sự trao đổi về tri thức và giáo lý giữa các học giả và các nhà lãnh đạo tôn giáo; và sau cùng, đối thoại của kinh nghiệm tôn giáo, được đặt nền tảng trên một cuộc gặp gỡ đích thực giữa các truyền thống tôn giáo liên quan đến cầu nguyện và chiêm niệm. Qua việc làm rõ những cấp độ này, văn kiện đặt nền tảng cho một sự dấn thân cụ thể và đa dạng của Giáo hội trong các xã hội đa nguyên.
[40] Văn kiện ĐỐI THOẠI VÀ RAO GIẢNG tiếp tục triển khai suy tư về mối tương quan giữa đối thoại liên tôn và việc công khai rao giảng Tin mừng. Trong khi tái khẳng định cách rõ ràng rằng việc rao giảng Đức Kitô vẫn là trọng tâm của sứ mạng Kitô giáo, văn kiện nhấn mạnh rằng đối thoại liên tôn không những tương hợp với việc rao giảng ấy, mà còn là một chiều kích thiết yếu và bổ sung cho việc rao giảng. Đối thoại được trình bày như một hành trình thiêng liêng đích thực và như một phương thế ưu việt, qua đó các Kitô hữu làm chứng cho đức tin của mình bằng việc tôn trọng và chân thành lắng nghe tha nhân. Văn kiện khẳng định rằng đối thoại và việc rao giảng không bao giờ đối nghịch nhau; trái lại, đó là hai phương thức bổ sung cho nhau để thực thi một sứ mạng duy nhất của Giáo hội, bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa và từ sự nhìn nhận sâu xa phẩm giá cũng như tự do của mỗi người.
[41] x.GIOAN PHAOLÔ II, Thông điệp Redemptoris Missio (7.12.1990), số 55: AAS 83 (1991), tr. 302.
[42] x. CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số. 2: AAS 58 (1966), tr. 741.
[43] x.GIOAN PHAOLÔ II, Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 34 (1.1.2001): AAS 93 (2001), tr. 234–247.
[44] x.GIOAN PHAOLÔ II, Diễn từ với các Đại diện Tôn giáo nhân phiên bế mạc Hội nghị Liên tôn (28.10.1999), số 3: Insegnamenti, XXII/2 (1999), tr. 653. Phần nhấn mạnh là của nguyên bản.
[45] x. CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số. 5: AAS 58 (1966), tr. 743.
[46] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Thư gửi Đức cha Domenico Sorrentino nhân kỷ niệm 20 năm Cuộc Gặp gỡ Liên tôn Cầu nguyện cho Hòa bình (2.9.2006): AAS 98 (2006), tr. 750.
[47] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Diễn từ nhân cuộc gặp gỡ với các Đại diện của Giới Khoa học (12.9.2006): Insegnamenti, II/2 (2006), tr. 259.
[48] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Diễn từ với các Đại diện của một số Cộng đồng Islam (20.8.2005): Insegnamenti, I (2005), tr. 448. x. Id., Diễn từ với các Đại sứ của các Quốc gia có đa số dân theo Islam được công nhận bên cạnh Tòa thánh và một số Đại diện của các Cộng đồng Islam tại Ý (25.9.2006): AAS 98 (2006), tr. 705.
[49] x. PHANXICÔ, Diễn từ với các Tham dự viên Hội nghị Quốc tế về Hòa bình (28.4.2017): AAS 109 (2017), tr. 495.
[50] x. BỘ VỀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN, Đối thoại trong Chân lý và Đức ái: Những hướng dẫn mục vụ về Đối thoại Liên tôn (19.5.2014): EV 30, 843–928.
[51] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11. 2013), số. 250: AAS 105 (2013), tr. 1120.
[52] PHANXICÔ, Diễn từ với các Thành viên của Ủy ban Do Thái Hoa Kỳ (13.2.2014): Insegnamenti, II/1 (2014), tr. 166.
[53] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11. 2013), số. 247-249: AAS 105 (2013), tr. 1119-1120.
[54] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 249: AAS 105 (2013), tr. 1120.
[55] x. Văn kiện về Tình Huynh đệ Nhân loại vì Hòa bình Thế giới và Chung sống: được Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đại Imam Ahmad Al-Tayyeb ký kết (4.2.2019): AAS 111 (2019), tr. 349-356.
[56] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), số. 85: AAS 112 (2020), tr. 998.
[57] x. PHANXICÔ, Thông điệp Lumen Fidei (29.6.2013), số 55: AAS 105 (2013), tr. 592. X. Id., Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), các số 226–230: AAS 105 (2013), tr. 1112–1113.
[58] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), số 285: AAS 112 (2020), tr. 1073, trong đó trích dẫn Văn kiện về Tình Huynh đệ Nhân loại vì Hòa bình Thế giới và Chung sống Hòa hợp, được Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đại Imam Ahmad Al-Tayyeb ký kết (4.2.2019): AAS 111 (2019), tr. 350.
[59] x. PHANXICÔ, Diễn từ nhân Hội nghị “Thần học sau Veritatis Gaudium trong bối cảnh Địa Trung Hải” (21.6.2019): AAS 111 (2019), tr. 1098.
[60] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10. 2020), số. 30: AAS 112 (2020), tr. 980.
[61] x. PHANXICÔ, Diễn từ nhân Hội nghị “Thần học sau Veritatis Gaudium trong bối cảnh Địa Trung Hải” (21.6.2019): AAS 111 (2019), tr. 1101.
[62] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10. 2020), số. 202: AAS 112 (2020), tr. 1041.
[63] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10. 2020), số. 199: AAS 112 (2020), tr.1040.
[64] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), số 69: AAS 112 (2020), tr. 995.
[65] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), số 69: AAS 112 (2020), tr. 993.
[66] x. LÊÔ XIV, Diễn từ với Đoàn Ngoại giao được thừa nhận bên cạnh Tòa thánh (16.5.2025): L’Osservatore Romano, 16.5.2025, tr. 1–3.
[67] x. LÊÔ XIV, Diễn từ nhân kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nostra aetate: “Cùng nhau bước đi trong hy vọng” (28.10.2025): L’Osservatore Romano, 29.10.2025, tr. 4.
[68] x. LÊÔ XIV, Diễn từ nhân kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nostra aetate: “Cùng nhau bước đi trong hy vọng” (28.10.2025): L’Osservatore Romano, 29.10.2025, tr. 4-5.
[69] x. LÊÔ XIV, Diễn từ nhân kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nostra aetate: “Cùng nhau bước đi trong hy vọng” (28.10.2025): L’Osservatore Romano, 29.10.2025, tr. 5.
[70] x. LÊÔ XIV, Buổi Tiếp kiến chung (29.10.2025): L’Osservatore Romano, 29.10.2025, tr. 2.
[71] x. LÊÔ XIV, Diễn từ với các Đại diện của các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác và các Tôn giáo khác (19.5.2025): L’Osservatore Romano, 19.5.2025, tr. 6.
[72] CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số 4: AAS 58 (1966), tr. 743.
[73] x. Tuyên bố Chung được Đức Giáo hoàng Lêô XIV và Đức Thượng phụ Đại kết ký kết (Istanbul, 29.11.2025): L’Osservatore Romano, 29.11.2025, tr. 3.
[74] x. LÊÔ XIV, Thông điệp Magnifica Humanitas (15.5.2026), số 223, trong đó trích dẫn Đức Phanxicô, Lời kêu gọi Hòa bình tại Assisi nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Hòa bình, “Khát vọng Hòa bình: Các Tôn giáo và các Nền văn hóa trong Đối thoại” (20.9.2016): AAS 108 (2016), tr. 1124.
[75] x. Văn kiện về Tình Huynh đệ Nhân loại vì Hòa bình Thế giới và Chung sống, được Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đại Imam Ahmad Al-Tayyeb ký kết (Abu Dhabi, 4.2.2019); Tuyên bố Chung kết của Đại hội lần thứ VII các Nhà lãnh đạo Tôn giáo Thế giới và Tôn giáo Truyền thống (Nur-Sultan, 15.9.2022); Tuyên bố Chung Istiqlal, được Đức Giáo hoàng Phanxicô và Đại Imam Nasaruddin Umar ký kết (Jakarta, 5.9.2024). Tất cả những văn kiện này đều làm chứng cho sự dấn thân liên tục nhằm đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau, sự cộng tác cụ thể và việc chung sống hòa bình giữa những người thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau.
[76] PHANXICÔ, Diễn từ tại Phiên họp bế mạc “Các cuộc Gặp gỡ Địa Trung Hải” (23.9.2023): AAS 115 (2023), tr. 1146.
[77] Trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo, đối thoại có nghĩa là “tất cả những mối tương quan liên tôn tích cực và mang tính xây dựng với các cá nhân và cộng đoàn thuộc những tín ngưỡng khác, nhằm hướng tới sự hiểu biết lẫn nhau và làm phong phú cho nhau”, trong sự vâng phục chân lý và tôn trọng tự do. Đối thoại bao gồm cả việc làm chứng và việc tìm hiểu những xác tín tôn giáo tương ứng của mỗi bên.” (x. HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH VỀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN – BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Đối thoại và Rao giảng (19.5.1991), số 9: AAS 84 (1992), tr. 417–418.; được trích dẫn Văn phòng Thư ký về những người ngoài Kitô giáo, “Thái độ của Giáo hội đối với những người theo các tôn giáo khác: Những suy tư và định hướng về Đối thoại và Sứ vụ”, Bulletin of the Secretariat for Non-Christians 56 [1984/2], số 13).
[78] x. HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH VỀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN – BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Hướng dẫn Đối thoại và Rao giảng (19.5.1991), số 42: AAS 84 (1992), tr. 428.
[79] x. CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số. 3: AAS 58 (1966), 741.
[80] x. CĐ VATICANÔ II, Tuyên ngôn Nostra aetate (28.10.1965), số. 3: AAS 58 (1966), tr.742.
[81] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 253: AAS 105 (2013), tr. 1121.
[82] x. PHANXICÔ, Thông điệp Lumen Fidei (29.6.2013), số 34: AAS 105 (2013), tr. 577.
[83] X. G. C. ANAWATI, O.P., “Excursus on Islam”, dịch bởi S. Young – E. Young, trong H. Vorgrimler (chủ biên), Commentary on the Documents of Vatican II, tập III, New York – London, 1969, tr. 154.
[84] x. HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH VỀ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN – BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Đối thoại và Rao giảng (19.5.1991), số 77: AAS 84 (1992), tr. 441-442.
[85] x. PHANXICÔ, Thông điệp Dilexit Nos (24.10.2024), số 210: AAS 116 (2024), tr. 1435–1436.
[86] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10. 2020), số. 271: AAS 112 (2020), tr.1066.
[87] x. PHANXICÔ, Thông điệp Fratelli Tutti (3.10.2020), số 198: AAS 112 (2020), tr. 1039.
[88] x. BỘ ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN – BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC, Hướng dẫn Đối thoại và Rao giảng (19.5.1991), số 38: AAS 84 (1992), tr. 427.
[89] x. PHANXICÔ, Diễn từ tại cuộc gặp gỡ với các vị lãnh đạo các hệ phái Kitô giáo và các tôn giáo khác tại Đại học Chulalongkorn (22.11.2019): AAS 111 (2019), tr. 1957.
[90] x. BÊNÊĐICTÔ XVI, Diễn từ tại Ngày Suy tư, Đối thoại và Cầu nguyện cho Hòa bình và Công lý trên thế giới: “Những người hành hương của Chân lý, những người hành hương của Hòa bình” (27.10.2011): Insegnamenti, VII/2 (2011), tr. 514.
[91] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11. 2013), số. 256: AAS 105 (2013), tr. 1123.
[92] x. PHANXICÔ, Tông huấn Evangelii Gaudium (24.11.2013), số 236: AAS 105 (2013), tr. 1115.
[93] x. PHANXICÔ, Sứ điệp Urbi et Orbi (21.4.2019): AAS 111 (2019), tr. 731.
[94] x. LÊÔ XIV, Diễn từ với các Đại diện của các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác và các Tôn giáo khác (19.5. 2025): L’Osservatore Romano, 19.5. 2025, 6.
[95] x. LÊÔ XIV, Buổi Tiếp kiến chung (29.10.2025): L’Osservatore Romano, 29.10. 2025, 3.
Nguồn: https://hdgmvietnam.com/



